Xã Suối Hai - Thành phố Hà Nội

Contact the organization

Xã Suối Hai - Thành phố Hà Nội Trang thông tin Chính thức của Đảng ủy xã Suối Hai,Thành phố Hà Nội.

📢 THÔNG BÁO THAM GIA ĐIỀU TRA DƯ LUẬN XÃ HỘI TRỰC TUYẾN 📢 Nhằm nắm bắt ý kiến đánh giá của cán bộ, đảng viên và Nhân dân...
01/10/2026

📢 THÔNG BÁO THAM GIA ĐIỀU TRA DƯ LUẬN XÃ HỘI TRỰC TUYẾN 📢
Nhằm nắm bắt ý kiến đánh giá của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong quý III năm 2026, Vụ Nghiên cứu - Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức điều tra dư luận xã hội trực tuyến.

📌 Đối tượng khảo sát: Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân

📌 Nội dung: Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong quý III năm 2026.

📌 Thời gian: Từ ngày 30/9/2026 đến ngày 03/10/2026.
📌 Hình thức: Khảo sát trực tuyến.

👉 Tham gia khảo sát tại:
https://dlxh.tuyengiao.vn/Home/Index?surveyId=211&zarsrc=1303&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

Mỗi ý kiến tham gia là nguồn thông tin quan trọng, góp phần phản ánh khách quan tâm tư, nguyện vọng và đánh giá của cán bộ, đảng viên, Nhân dân; phục vụ công tác nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội và tham mưu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo.

🇻🇳 Cán bộ, đảng viên và Nhân dân xã Suối Hai tích cực tham gia khảo sát, đóng góp ý kiến trách nhiệm, khách quan và thực chất!

📌📌📌XÃ SUỐI HAI ĐẨY MẠNH TIẾN ĐỘ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC SỐ HÓA HỒ SƠ ĐẢNG VIÊNThực hiện Kế hoạch số 03-KH/BCĐ ngày 15/5/2026...
29/09/2026

📌📌📌XÃ SUỐI HAI ĐẨY MẠNH TIẾN ĐỘ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC SỐ HÓA HỒ SƠ ĐẢNG VIÊN

Thực hiện Kế hoạch số 03-KH/BCĐ ngày 15/5/2026 của Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số ngành Tổ chức xây dựng Đảng về triển khai chiến dịch cao điểm 45 ngày đêm tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số; Kế hoạch số 95-KH/TU ngày 14/8/2026 của Thành ủy Hà Nội về triển khai nhiệm vụ số hóa, tạo lập hồ sơ đảng viên và Công văn số 1607-CV/BTCTU ngày 22/9/2026 của Ban Tổ chức Thành ủy. Với mục đích quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trương đột phá chiến lược về chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương; Chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý hồ sơ đảng viên từ hồ sơ giấy truyền thống sang hồ sơ điện tử và dữ liệu số hiện đại; Từng bước tối ưu hóa, hiện đại hóa công tác quản lý đảng viên, giảm phụ thuộc tối đa vào hồ sơ giấy, nâng cao hiệu quả lưu trữ, bảo quản an toàn lâu dài, tra cứu nhanh chóng và dùng chung dữ liệu trong toàn Đảng bộ xã, Thành phố Hà Nội và kết nối đồng bộ với Trung ương.

Đảng ủy xã Suối Hai đã triển khai Kế hoạch, Công văn tới các tổ chức Đảng trực thuộc để tập trung đẩy mạnh công tác số hóa hồ sơ đảng viên trên toàn địa bàn. Toàn Đảng bộ xã hiện có 1.863 hồ sơ đảng viên. Để bảo đảm tiến độ triển khai thực hiện việc số hóa, tạo lập dữ liệu đảng viên, hồ sơ đảng viên điện tử theo kế hoạch của Ban Tổ chức Thành ủy, Đảng ủy xã đã triển khai rà soát, lập danh mục, sắp xếp nhằm kịp thời phát hiện những thông tin còn thiếu, chưa thống nhất hoặc cần xác minh, bổ sung. Trong quá trình số hóa, dữ liệu tiếp tục được kiểm tra, ký số và cập nhật lên Hệ thống Cơ sở dữ liệu đảng viên, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Điểm nổi bật trong việc triển khai là đội ngũ cán bộ, chuyên viên Ban Xây dựng Đảng trực tiếp thực hiện việc rà soát, chỉnh lý, số hóa, kiểm tra chất lượng hồ sơ đồng thời hướng dẫn cán bộ, đảng viên tại các chi, đảng bộ tham gia hỗ trợ.
Toàn bộ quá trình thực hiện nghiêm túc theo nguyên tắc “Làm đến đâu chắc đến đó; số hóa đến đâu xác thực đến đó; dữ liệu đến đâu khai thác được đến đó”. Việc hoàn thành chất lượng, đúng tiến độ đợt rà soát không chỉ là trách nhiệm của mỗi cấp ủy, chi bộ mà còn thể hiện tinh thần tiên phong, chủ động của từng cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện Nghị quyết chuyển đổi số. Đây là cơ sở quan trọng để xã Suối Hai hoàn thành nhiệm vụ số hóa hồ sơ đảng viên, góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng tại địa phương.

Bác bỏ luận điệu “kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cản trở sự phát triển”Tác giả: Đại tá ĐINH HỒNG...
28/09/2026

Bác bỏ luận điệu “kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cản trở sự phát triển”
Tác giả: Đại tá ĐINH HỒNG QUÂN, Phó chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng
Kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là đường lối nhất quán, giữ vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn qua 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của sự kiên định đó. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại xuyên tạc “kiên định nền tảng lý luận đó là bảo thủ, trì trệ, cản trở sự phát triển”, vì vậy cần phải đấu tranh, bác bỏ bằng những luận cứ khoa học, thực tiễn mang tính thuyết phục.
Đánh tráo khái niệm giữa kiên định về nguyên tắc và bảo thủ trong tư duy
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, không có quốc gia nào đạt được những bước tiến bền vững nếu thiếu một nền tảng tư tưởng vững chắc. Đối với cách mạng Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và dân tộc. Đây không phải là sự áp đặt chủ quan mà là kết quả của quá trình lựa chọn lịch sử, được kiểm nghiệm bằng thực tiễn đấu tranh cách mạng lâu dài của dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”; coi đây là nguyên tắc có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá bằng nhiều phương thức tinh vi, trong đó tập trung xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Một trong những luận điệu được "nhai đi nhai lại" là: Việc kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng nghĩa với bảo thủ, trì trệ, cản trở đổi mới, sáng tạo và làm chậm quá trình phát triển của đất nước. Thực chất, đây là sự đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất giữa kiên định về nguyên tắc với bảo thủ trong tư duy, giữa giữ vững mục tiêu chiến lược với phủ nhận đổi mới, nhằm từng bước làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Do đó, nhận diện đúng bản chất, mục đích của các quan điểm sai trái, đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc không chỉ là yêu cầu cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà còn là điều kiện quan trọng để tạo sự đồng thuận xã hội, tăng cường niềm tin chính trị và động lực tinh thần cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Sự kiên định và đổi mới làm nên giá trị bền vững nền tảng tư tưởng của Đảng
Một trong những giá trị cốt lõi làm nên sức sống lâu bền của Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là tính khoa học, cách mạng và khả năng tự phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn. C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin chưa bao giờ coi học thuyết của mình là những nguyên lý bất biến, tách rời sự vận động của lịch sử. Trái lại, các ông luôn nhấn mạnh lý luận cách mạng phải được bổ sung, phát triển không ngừng để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
V.I.Lênin khẳng định rõ tinh thần phát triển của Chủ nghĩa Mác khi cho rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt”. Cần hiểu rằng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là giữ nguyên những mô hình, cách thức đã có trong quá khứ, mà là kiên định thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý nền tảng, đồng thời vận dụng sáng tạo vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc.
Kế thừa và phát triển sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự lặp lại giản đơn Chủ nghĩa Mác-Lênin, mà là sự vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp với điều kiện Việt Nam. Những quan điểm về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy nhân dân làm trung tâm, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... vẫn giữ nguyên giá trị định hướng trong quá trình phát triển đất nước hiện nay.
Về phương diện pháp lý, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (bổ sung và phát triển năm 2025). Điều 4 Hiến pháp khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam-Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đây là sự khái quát từ thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng và những thành quả to lớn mà dân tộc Việt Nam đã đạt được dưới ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới của Đảng.
Cần nhận thức rõ là kiên định nền tảng tư tưởng không đồng nghĩa với việc duy trì tư duy cứng nhắc, bảo lưu những nhận thức không còn phù hợp. Bản chất của đường lối đổi mới ở Việt Nam chính là quá trình vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước; không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, hoàn thiện đường lối và chính sách phát triển. Chính sự kết hợp giữa kiên định về mục tiêu, nguyên tắc với đổi mới về tư duy, phương thức tổ chức thực hiện đã tạo nên sức sống của công cuộc đổi mới ở nước ta.
Thực tiễn cho thấy, sự ổn định chính trị không phải là lực cản của phát triển mà là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển bền vững. Một đất nước muốn tiến nhanh, tiến xa cần có một môi trường chính trị ổn định, một chiến lược phát triển nhất quán và khả năng huy động, phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội. Sự ổn định chính trị của Việt Nam trong những năm qua đã tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và mở rộng hội nhập quốc tế.
Về phương diện thực tiễn, qua 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là minh chứng thuyết phục cho sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu do các cuộc chiến tranh xâm lược gây nên, lại bị bao vây, cấm vận và phong tỏa, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng với thế giới. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, song vai trò, sức mạnh từ các thành phần kinh tế của Việt Nam phát triển năng động, có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2025, tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam đạt 8,02%, thuộc nhóm cao trong khu vực, với quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao.
Trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không hề xa rời nền tảng tư tưởng của mình là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà ngược lại ngày càng kiên định hơn. Chính sự kiên định ấy đã tạo ra “trục ổn định” để đất nước phát triển mà không bị chệch hướng, lạc đường. Giống như một cây cổ thụ, rễ càng bám sâu vào lòng đất thì tán lá càng xum xuê, càng vươn rộng; nếu chặt rễ để “đổi mới”, cây sẽ đổ trước khi kịp xanh lá, ra hoa.
Đại hội XIV của Đảng đã đặt vấn đề “kiên định” và “đổi mới” trong một chỉnh thể thống nhất. Theo đó, tinh thần kiên định chính là bản lĩnh chính trị, là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử và những bài học từ công cuộc đổi mới, là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường tự lực, tự chủ, tự cường, luôn đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết, trước hết, đặt ấm no và hạnh phúc của nhân dân ở vị trí trung tâm. Đây chính là “cái gốc” bảo đảm cho cách mạng Việt Nam không chệch hướng trước những biến động phức tạp của thời cuộc. Còn tinh thần “đổi mới” là yêu cầu mang tính thời đại. Không đổi mới, cải cách thì không thể bứt phá, không thể cạnh tranh, không thể phát triển. Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện, để đường lối đúng trở thành kết quả cụ thể trong cuộc sống. Chính sự thống nhất giữa cái “gốc” vững vàng và sức sống đổi mới ấy đã làm nên bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đồng thời là cơ sở trực diện bác bỏ luận điệu cho rằng kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo thủ, trì trệ, cản trở sự phát triển đất nước.
Bài học của cách mạng Việt Nam trong 4 thập kỷ đổi mới vừa qua đã trả lời rõ ràng, đanh thép: Kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là điều kiện để phát triển mạnh mẽ và bền vững. Đây cũng là cơ sở, nền tảng vững chắc để Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc.
Báo QĐND
Ảnh minh họa: dantri.com.vn

Ẩn bớt

Không thể suy diễn sai trái đường lối của Đảng ta về kiều bàoTrong chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao...
27/09/2026

Không thể suy diễn sai trái đường lối của Đảng ta về kiều bào

Trong chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, tối 21/9 (theo giờ địa phương), tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tham dự sự kiện văn hóa nghệ thuật “Việt Nam: Hành trình Tổ quốc qua điện ảnh và âm nhạc” và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ.

Tham dự sự kiện có hơn 2.000 đại biểu, gồm các quan chức của Liên hợp quốc, bạn bè Hoa Kỳ, quốc tế và đông đảo đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Đây là sự kiện gặp gỡ giữa lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta với cộng đồng diễn ra ở nước ngoài có số lượng kiều bào tham dự lớn nhất từ trước đến nay.

Trong không khí thân mật, ấm áp tình đồng bào, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ vui mừng khi biết cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ ngày càng phát triển về quy mô, năng động, hội nhập tốt và có nhiều đóng góp tích cực cho chính quyền sở tại cũng như góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Thông tin tới cộng đồng về những thành tựu phát triển của Việt Nam trong những năm qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, đất nước ta đã có những bước phát triển rất quan trọng, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Với Hoa Kỳ, quan hệ hai nước phát triển ngày càng sâu rộng và thực chất từ thương mại, đầu tư, giáo dục đến khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, quốc phòng-an ninh và khắc phục hậu quả chiến tranh, hai nước ngày càng có nhiều lợi ích chung và không gian hợp tác. Từ những khác biệt và đau thương của quá khứ, hai nước đã từng bước xây dựng lòng tin, mở rộng hợp tác, phát triển và chia sẻ lợi ích chiến lược. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ tự hào về một cộng đồng người Việt Nam cần cù, năng động và giàu nghị lực, luôn hướng về quê hương, nguồn cội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại. Nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế phải được kết nối. Sức mạnh của hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước phải được gắn với sức mạnh của 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc trên khắp thế giới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, trải qua chiến tranh, chia cắt với nhiều đau thương, mất mát, chúng ta càng thấm thía giá trị của hòa bình. Ai trong chúng ta cũng đều mong muốn các thế hệ con cháu được thừa hưởng những giá trị tốt đẹp mà hòa bình mang lại, đó là một cuộc sống bình yên, tự do lao động, học tập, sáng tạo, là lòng nhân ái, sự bao dung, niềm tin, sự đồng lòng và khát vọng cùng nhau xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. Do đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kêu gọi cộng đồng khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc, cũng là vì chính tương lai của con cháu chúng ta. Đây không chỉ là mong muốn, mà là trách nhiệm của thế hệ chúng ta với thế hệ mai sau.

Cuộc gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là minh chứng sống động khẳng định lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng, quan tâm sâu sắc đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; nhấn mạnh người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đây là sự kế thừa tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tuy nhiên, sau cuộc gặp nói trên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trên mạng xã hội của một số hội nhóm, cá nhân chống đối ở hải ngoại đã xuất hiện những bài viết suy diễn, bóp méo bản chất sự việc, cố tình làm sai lệch thông điệp, đường lối nhất quán của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Đây là thủ đoạn quen thuộc của các đối tượng chống phá ở hải ngoại, nhất là khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta tham dự các hội nghị, sự kiện quốc tế, thăm, gặp gỡ cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Thực tế, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng hơn 6 triệu người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài. Ngay sau khi Nghị quyết số 23-NQ/TW được ban hành, trên không gian mạng xuất hiện các thông tin, bài viết vu cáo rằng Nghị quyết số 23 “nhằm mở rộng hoạt động an ninh ra hải ngoại”; “gia tăng theo dõi cộng đồng tại nước sở tại, núp dưới danh nghĩa bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài”; “đặt ra các nguy cơ đàn áp xuyên quốc gia”; “Đảng Cộng sản đang tìm cách khai thác, vắt kiệt nhân tài, vật lực của người Việt hải ngoại”…

Các đối tượng còn rêu rao Nghị quyết số 23-NQ/TW được triển khai “thực chất là những chiêu trò ru ngủ giả hiệu dân chủ” nhằm đánh lừa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Từ đó, quy chụp chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt ở nước ngoài không đồng bộ, thiếu nhất quán, thiên vị, chỉ ưu ái một bộ phận nhỏ và “xa rời thực tế cuộc sống của người Việt ở nước ngoài”.

Một số đối tượng còn đưa ra những lý lẽ cho rằng, thay vì vận động kiều bào, Việt Nam cần thay đổi thể chế, thay đổi vai trò lãnh đạo độc quyền của Đảng bằng đa đảng, từ bỏ CNXH và đi theo con đường TBCN thì mới nhận được sự ủng hộ của người Việt Nam ở nước ngoài. Những luận điệu này đã cố tình bỏ qua toàn bộ tinh thần hòa hợp dân tộc trong chính sách của Đảng và Nhà nước suốt nhiều năm qua. Đặc biệt, các thế lực thù địch thường lợi dụng một số vụ việc liên quan đến tranh chấp pháp lý, bảo hộ công dân để quy kết rằng Nhà nước không bảo vệ kiều bào, gây nhiễu loạn thông tin và xuyên tạc Nhà nước ta “chỉ quan tâm đến kiều hối còn cuộc sống, quyền lợi của kiều bào thì bị bỏ mặc”, “chính sách chỉ phục vụ lợi ích nhóm”, “có sự phân biệt đối xử khi kiều bào trở về nước”…

Từ đó, các đối tượng vu cáo chính quyền trong nước không thực sự muốn hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ lợi dụng chính sách này để “bòn rút” nguồn ngoại tệ của người Việt Nam ở nước ngoài. Họ tạo nghi kỵ giữa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, làm suy yếu sự gắn kết giữa người dân trong nước với kiều bào, cho rằng chủ trương hòa hợp hòa giải, đại đoàn kết và bảo tồn tiếng Việt chỉ là “chiêu bài” nhằm phục vụ mục đích chính trị.

Những luận điệu trên xuất phát từ những cá nhân, tổ chức người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn định kiến, thù hận, nhận thức và hành động sai trái, họ không đại diện cho đại đa số cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Luận điệu đó đi ngược xu thế thời đại, cản trở sự gắn kết của người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương; lôi kéo, tập hợp lực lượng đối lập hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Việt Nam với quốc tế, tác động đến sự ổn định chính trị, an ninh quốc gia và sự phát triển đất nước.

Nhìn tổng thể, mặc dù sống xa Tổ quốc nhưng đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về nguồn cội, gắn bó với gia đình, quê hương, đất nước. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài trong hơn 80 năm qua đã có những đóng góp to lớn về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Nhiều người bằng năng lực, uy tín và vai trò của mình trở thành cầu nối giữa người Việt Nam với các quốc gia sở tại. Vì vậy, những tiếng nói đơn độc, lạc lõng chống phá không thể làm phai nhạt ý nghĩa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài như Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004; Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015; Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021; Quyết định số 1334/QĐ-TTg ngày 10/11/2023… Người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng tham gia sâu hơn vào các hoạt động khoa học, giáo dục, văn hóa, kinh doanh, giao lưu nhân dân và quảng bá hàng hóa Việt Nam. Hiện nay, Nghị quyết 23-NQ/TW tiếp tục khẳng định, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết 23-NQ/TW đã thể hiện tầm nhìn và sự chuyển hướng về tư duy của Đảng, Nhà nước ta, không chỉ là sự tiếp nối của công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong hơn hai thập kỷ qua mà còn mở ra một cách tiếp cận mới, từ vận động sang đồng hành, từ huy động sang kiến tạo, từ những kết nối riêng lẻ sang xây dựng mạng lưới và từ nguồn lực tiềm năng sang nguồn lực phát triển, đưa những giá trị của Việt Nam đến gần hơn với quốc gia sở tại và lan tỏa với quốc tế.

Đây là bước phát triển mới trong nhận thức khi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận là một cấu phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. Sức mạnh của Việt Nam giờ đây không chỉ được đo bằng những nguồn lực hiện hữu trong lãnh thổ quốc gia mà còn bao gồm nguồn lực trí tuệ, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa và quan hệ quốc tế của hơn 6,5 triệu đồng bào trên khắp thế giới. Với vị thế đó, người Việt Nam ở nước ngoài vừa là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, vừa là lực lượng đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Vai trò, vị thế, uy tín của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong xã hội sở tại ngày càng được nâng cao. Đại bộ phận người dân đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dần dần tạo chỗ đứng vững chắc và có tiềm lực đáng kể về tri thức, trình độ khoa học, kỹ thuật. Không chỉ đóng góp bằng những nguồn lực đầu tư và chất xám, người Việt Nam ở nước ngoài còn tích cực bảo tồn, lan tỏa văn hóa Việt.

Tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9, lần đầu tiên có khối diễu hành riêng của người Việt Nam ở nước ngoài. Đông đảo phóng viên kiều bào từ Đức, Bỉ, Mỹ, Canada… về tham dự các hoạt động, đăng tải tin bài, lan tỏa hình ảnh Việt Nam hòa bình, phát triển. Bằng tình cảm, tâm huyết với đất nước, đã có hơn 2.300 ý kiến đóng góp của kiều bào đối các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV, gần 400 thư chúc mừng Đại hội. Đây là minh chứng rõ nét, phản ánh sinh động tình cảm gắn bó và sự đồng hành cùng Tổ quốc của đồng bào ở nước ngoài và đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đối với kiều bào.

Liêm Chính - Bình Nguyên



LuanDieuXuyenTac









27/09/2026
26/09/2026
Dân chủ gắn với pháp quyền, kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệmTiếp tục Phiên họp thứ 6, ngày 24/9, dưới sự chủ trì của Chủ t...
25/09/2026

Dân chủ gắn với pháp quyền, kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm

Tiếp tục Phiên họp thứ 6, ngày 24/9, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến vào một số dự án Luật và thông qua về nguyên tắc dự thảo Nghị quyết quy định về chế độ bảo vệ thẩm phán.

Cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ vào sáng qua, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý, việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh phải bảo đảm thực chất, gắn với đơn giản hóa trình tự, thủ tục, tránh việc chỉ bỏ quy định trong luật nhưng vẫn quy định tại các văn bản dưới luật. Cắt giảm thời gian và chi phí tuân thủ nhưng cần có cơ chế hậu kiểm phù hợp để bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.

Góp ý vào dự luật, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng, lần sửa đổi tập trung chuyển trọng tâm từ bảo hộ quyền sang tài sản hóa, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời thích ứng với công nghệ số và AI. Chủ tịch Quốc hội đề nghị: để cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện, thực chất, phải bảo đảm nguồn lực con người và hạ tầng số mạnh mẽ, quy định rõ chế tài khi cơ quan nhà nước chậm hạn, tăng hiệu quả hậu kiểm. Cần cơ chế thẩm định nhanh, ưu tiên lĩnh vực chiến lược công nghệ: xanh, bán dẫn, AI, dược phẩm thay vì áp dụng tràn lan.

Để thúc đẩy khai thác thương mại, tài sản hóa quyền sở hữu trí tuệ cần sớm ban hành hướng dẫn về sở hữu trí tuệ thống nhất, minh bạch, nhất là đối với tài sản vô hình như phần mềm, dữ liệu, thương hiệu số… Thời gian tới, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ cần đặc biệt quan tâm ban hành nhanh nghị định về AI, xây dựng hệ thống định giá sở hữu trí tuệ chuẩn mực và cơ sở dữ liệu giao dịch công khai; đầu tư mạnh vào nhân sự, công nghệ thẩm định để đáp ứng thời hạn mới.
Chuyển đổi số phải mở rộng dân chủ

Nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong phiên làm việc sáng qua, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh, yêu cầu sửa đổi không phải chỉ tinh gọn số điều mà quan trọng là dân chủ ở cơ sở phải thực chất, trách nhiệm và phù hợp với phương thức quản trị mới.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị, việc sửa đổi luật phải xác định đúng tinh thần, dân chủ đi cùng pháp quyền, kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm, nghiêm minh ở cơ sở. Dân chủ ở cơ sở không chỉ là người dân được biết, được bàn, được tham gia ý kiến mà quan trọng hơn là ý kiến đó được tiếp nhận, trả lời thế nào và kết quả xử lý ra sao. Đối với những cơ chế trực tiếp tác động đến quyền của người dân phải được quy định rõ, dễ thực hiện.

Nhấn mạnh chuyển đổi số phải mở rộng dân chủ, không tạo ra khoảng cách dân chủ số, Chủ tịch Quốc hội đồng tình với việc họp trực tuyến, bỏ phiếu điện tử, lấy ý kiến trên nền tảng số nhưng phải bảo đảm mọi người dân có cơ hội tham gia. Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ cần tiếp tục làm rõ và tăng cường cơ chế trách nhiệm giải trình và chế tài, phải lấy người dân làm trọng tâm trong sửa đổi luật để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Cũng trong sáng qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã biểu quyết thông qua về nguyên tắc dự thảo Nghị quyết quy định về chế độ bảo vệ thẩm phán.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định lưu ý, đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để thể chế hóa Quy định số 183-QĐ/TW của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị.

Thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa

Trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa chiều qua, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, dự án Luật tập trung giải quyết các vấn đề mang tính then chốt để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa thông qua 6 nhóm nội dung: Phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; Nhân lực công nghiệp văn hóa; Hạ tầng công nghiệp văn hóa; Thị trường công nghiệp văn hóa; Tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư. Việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là cần thiết nhằm hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, phát triển thị trường và đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng của đất nước.

Trình bày Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết: Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Luật cũng như phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, tuy nhiên, cần tiếp tục rà soát, xác định đối tượng áp dụng trong nước và ngoài nước, nhất là các chủ thể nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa vào thị trường Việt Nam, hoạt động qua nền tảng số xuyên biên giới hoặc khai thác “tài sản trí tuệ” thuộc phạm vi bảo hộ tại Việt Nam…

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát dự thảo Luật với các luật chuyên ngành có liên quan như: Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Công nghiệp công nghệ số… và các điều ước quốc tế có liên quan; rà soát, đánh giá cụ thể hơn tác động của các chính sách mới trong dự thảo Luật.

Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Dự thảo luật bổ sung nhiều quy định mới nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng hiệu quả quản lý và nâng cao trách nhiệm trong bảo đảm an toàn thực phẩm. Thẩm tra sơ bộ, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết: Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Sau hơn 15 năm thực hiện, Luật An toàn thực phẩm đã bộc lộ một số hạn chế như mô hình quản lý còn phân tán, chồng chéo; khoảng trống pháp lý trong quản lý các hình thức kinh doanh mới trên môi trường số, thương mại điện tử và giao đồ ăn trực tuyến. Thường trực Ủy ban đề nghị bổ sung quyền của người tiêu dùng được tiếp cận thông tin minh bạch, truy xuất nguồn gốc thực phẩm; đồng thời quy định trách nhiệm của chủ nền tảng số, sàn thương mại điện tử trong bảo đảm an toàn thực phẩm. Về hậu kiểm, cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát để tránh biến hậu kiểm thành một hình thức tiền kiểm mới. Thường trực Ủy ban đề nghị cần quy định rõ trách nhiệm bồi thường, chế tài xử phạt trong lĩnh vực này...

Báo Nhân dân


Address

Số 138, Thôn Đức Thịnh, Xã Suối Hai, Thành Phố Hanoi
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Xã Suối Hai - Thành phố Hà Nội posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Xã Suối Hai - Thành phố Hà Nội:

Shortcuts

Share