Đoàn thanh niên thôn AMA HLIL

Đoàn thanh niên thôn AMA HLIL Đoàn viên thanh niên thôn Hlil 2

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mớiTrong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh ...
17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%. Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Tăng cường tính thực tiễn, khả năng phối hợp và năng lực xử lý tình huống cho Ban Chỉ đạo 35 từ cơ sởNgày 17-8, tại Quản...
17/08/2026

Tăng cường tính thực tiễn, khả năng phối hợp và năng lực xử lý tình huống cho Ban Chỉ đạo 35 từ cơ sở

Ngày 17-8, tại Quảng Ninh, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương tổ chức Hội nghị tập huấn, trao đổi kinh nghiệm tham mưu, giúp việc của Ban Chỉ đạo 35 các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương năm 2026.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Trung ương dự và chỉ đạo hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng là đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và lực lượng tham mưu, giúp việc Ban Chỉ đạo 35 các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết ghi nhận, biểu dương sự nỗ lực, cố gắng của lực lượng tham mưu, giúp việc Ban Chỉ đạo 35 các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã đóng góp tích cực vào kết quả đạt được của Ban Chỉ đạo 35 các cấp và Ban Công tác 35 cấp xã thời gian qua trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị.

Đồng chí nêu rõ, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang đẩy mạnh hoạt động chống phá, trực diện tác động vào quá trình triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, quyết sách chiến lược; gieo rắc hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị, cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; biến không gian mạng trở thành “mặt trận” tấn công chủ yếu, lan truyền thông tin xấu độc để tác động, dẫn dắt dư luận xã hội. Từ thực tiễn đó, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đặt ra những yêu cầu và nhiệm vụ mới, đòi hỏi lực lượng tham mưu, giúp việc Ban Chỉ đạo 35 các cấp phải tiếp tục đổi mới tư duy, nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao năng lực dự báo, tham mưu và xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh. Hội nghị tập huấn, trao đổi kinh nghiệm năm 2026 có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong thời gian tới.

Tại hội nghị, đại diện một số Ban Chỉ đạo 35 các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, thiết thực, hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại cơ quan, địa phương, đơn vị. Các đại biểu trực tiếp tham gia tọa đàm trao đổi, đánh giá những kết quả đạt được; nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; chỉ ra hạn chế, khó khăn, vướng mắc; đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực để nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng tham mưu, giúp việc Ban Chỉ đạo 35 các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương trong thời gian tới.

Ban Chỉ đạo 35 Trung ương tổ chức cuộc diễn tập mẫu về quy trình lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp lực lượng trong xử lý các tình huống phức tạp, nhạy cảm giả định phát sinh tại địa phương. Hoạt động thiết thực này góp phần tăng cường tính thực tiễn, khả năng phối hợp và năng lực xử lý tình huống cho lực lượng làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ cơ sở.

TTXVN

Báo Nhân dân


Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tếNghị quyết số 79-NQ/TW...
17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup k...
17/08/2026

Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”

Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đơn vị tham gia rà soát Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án và các chương trình đường sắt cao tốc quốc tế), cho rằng Việt Nam cần trả lời câu hỏi mong muốn kết nối các đô thị lớn ra sao, mở ra những hành lang kinh tế mới như thế nào và hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp hơn ra sao.

Tuy nhiên, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế trong các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, Arup nhận thấy rằng đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.

Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.

Theo ông TC Chew, lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TPHCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.

Ông chia sẻ, thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc, mà còn vào việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.

Nhìn từ góc độ này, bài toán vốn cũng cần được nhìn nhận rộng hơn. Chi phí đầu tư ban đầu chắc chắn rất lớn, nhưng giá trị dài hạn của đường sắt cao tốc không chỉ nằm ở doanh thu vé, mà còn ở khả năng nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình không gian quanh nhà ga và mở rộng tiếp cận việc làm, dịch vụ.

Vì vậy, theo ông TC Chew phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán từ đầu, với các nhà ga được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau. Làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính, vừa nâng chất lượng đô thị.

Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ phát huy tốt khi toàn bộ hành trình được kết nối liền mạch. Vì vậy, quy hoạch quanh ga cần tính đến yếu tố liên thông từ đầu. Nếu hành khách xuống tàu phải đối mặt với ùn tắc, giao thông công cộng hạn chế hoặc chặng cuối kéo dài, lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm, ông TC Chew chỉ rõ.

Ông nhấn mạnh quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận, tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.

Để hiện thực hóa điều đó, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng kỹ thuật. Các chương trình đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai, từ phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai. Vì vậy, chương trình cần mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội nâng cao năng lực nội tại của quốc gia, từ củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước. Điều này đòi hỏi kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức.

Niềm tin của công chúng là điều kiện quan trọng để dự án quy mô lớn nhận được sự ủng hộ trong dài hạn. Vì vậy, ông TC Chew nhấn mạnh cần minh bạch về phương án tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng, giúp người dân hiểu tác động của dự án tới khả năng di chuyển, tiếp cận và cơ hội kinh tế.





Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước AustraliaTheo đặc phái viên TTXVN, sáng 11/8, tại Phủ Toàn qu...
11/08/2026

Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước Australia

Theo đặc phái viên TTXVN, sáng 11/8, tại Phủ Toàn quyền Australia, thủ đô Canberra, Toàn quyền Australia Sam Mostyn đã chủ trì Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Australia từ ngày 9 đến ngày 12/8.

Tham dự lễ đón có nhiều quan chức cao cấp Australia và các thành viên Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.

Khi đoàn xe chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiến vào Phủ Toàn quyền, trong không khí nồng ấm, thắm tình hữu nghị, Toàn quyền Australia Sam Mostyn đã vui mừng đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại nơi đỗ xe, cùng lúc đó 21 loạt đại bác lần lượt vang lên chào mừng.

Toàn quyền Australia Sam Mostyn mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bước lên bục danh dự. Đội quân nhạc cử Quốc thiều Việt Nam. Đội trưởng Đội danh dự trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm duyệt Đội danh dự và Đội quân nhạc Australia. Sau khi duyệt Đội danh dự và Đội quân nhạc, Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng giới thiệu cho nhau về thành phần đoàn hai bên tham dự lễ đón.

Tiếp đó, Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đứng lên bục danh dự. Trong không khí trang nghiêm, Đội quân nhạc cử Quốc thiều Việt Nam và Quốc thiều Australia.

Sau lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến Toàn quyền Australia Sam Mostyn và tiến hành hội đàm với Thủ tướng Australia Anthony Albanese; chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác và gặp gỡ báo chí; hội kiến Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện Australia…

Việt Nam và Australia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 26/2/1973. Kể từ đó đến nay, hai nước đã xây dựng một mối quan hệ mạnh mẽ và bền bỉ với lợi ích đa dạng và ngày càng tăng. Hiện nay, Việt Nam được coi là một trong những đối tác song phương quan trọng nhất của Australia.

Quan hệ Việt Nam-Australia đang ở giai đoạn phát triển năng động nhất kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.

Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tiếp tục củng cố vững chắc vai trò là một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu của quan hệ song phương. Australia hiện là đối tác thương mại lớn thứ bảy của Việt Nam, trong khi Việt Nam khẳng định vị thế là đối tác thương mại đầy năng động của Australia tại Đông Nam Á.

Chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đã đạt 8,1 tỷ USD, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Australia bứt phá mạnh mẽ đạt 3,8 tỷ USD, tăng hơn 25%, cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân của cả nước. Đồng thời, Australia vững vàng nằm trong nhóm 10 đối tác lớn nhất của Việt Nam về thương mại, du lịch và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Cùng với những thành quả hợp tác về kinh tế, hợp tác quốc phòng và an ninh giữa hai nước cũng ngày càng đi vào chiều sâu trên nền tảng tin cậy và tôn trọng lẫn nhau. Khoa học, công nghệ và giáo dục đang nổi lên mạnh mẽ thành động lực phát triển mới của mối quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước…

Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia không chỉ là dấu mốc mở ra giai đoạn phát triển mới của quan hệ song phương, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm của lãnh đạo hai nước trong việc xây dựng quan hệ Việt Nam-Australia ngày càng hiệu quả, trên cơ sở tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.

Chuyến thăm cũng là bước triển khai quan trọng đường lối đối ngoại được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần cụ thể hóa chủ trương đưa quan hệ với các đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững.

Nguyễn Hồng Điệp (TTXVN)








Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Toàn quyền AustraliaTheo đặc phái viên TTXVN, nhận lời mời của Toàn quyền Aus...
11/08/2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Toàn quyền Australia

Theo đặc phái viên TTXVN, nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước tới Australia từ ngày 9 - 12/8/2026.

Sáng 11/8, sau Lễ đón cấp Nhà nước được tổ chức trọng thể tại Phủ Toàn quyền ở thủ đô Canberra theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến Toàn quyền Australia Sam Mostyn.

Toàn quyền Australia Sam Mostyn bày tỏ vui mừng gặp lại Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Canberra sau chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của bà đến Việt Nam vào tháng 9/2025. Nhiệt liệt chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm cấp Nhà nước tới Australia, Toàn quyền Australia Sam Mostyn khẳng định quan hệ hai nước đang phát triển hết sức mạnh mẽ trên nền tảng tin cậy chính trị vững chắc. Toàn quyền Australia tin tưởng chuyến thăm lần này sẽ chứng kiến các thành tựu mới, góp phần tiếp thêm những động lực mới đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước đi vào chiều sâu hơn nữa trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảm ơn sự tiếp đón trọng thị và thân tình của cá nhân bà Toàn quyền, Nhà nước và Nhân dân Australia. Chúc mừng những thành tựu Australia đạt được dưới sự lãnh đạo của Toàn quyền Sam Mostyn, đặc biệt trong thúc đẩy gắn kết xã hội, bình đẳng giới và phát triển bền vững, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tin tưởng sự phát triển ổn định của Australia không chỉ đem lại thịnh vượng cho người dân Australia, cho quan hệ Việt Nam - Australia mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới.

Trao đổi về quan hệ song phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển mạnh mẽ của quan hệ Việt Nam - Australia sau hơn 50 năm thiết lập quan hệ, việc triển khai quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Australia; nhấn mạnh Australia là người bạn, đối tác tin cậy, có nhiều lợi ích chiến lược tương đồng với Việt Nam. Việt Nam trân trọng sự đồng hành và hỗ trợ của Australia trong quá trình phát triển đất nước, đồng thời mong muốn đưa quan hệ hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.

Chia sẻ với Toàn quyền những nét lớn về tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam và những thành tựu quan trọng Việt Nam đã đạt được sau hơn 40 năm Đổi mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng chia sẻ những kết quả có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam sau các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước vừa qua.

Trong đó, đặc biệt là việc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã nhất trí xác lập mô hình phát triển mới dựa trên năng suất, tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao và quản trị hiện đại, gắn với tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng; thể hiện quyết tâm bứt phá và khát vọng của toàn thể Lãnh đạo và Nhân dân Việt Nam trong việc đạt được hai mục tiêu 100 năm, phấn đấu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay đang có những biến đổi sâu sắc và đặt ra những yêu cầu rất cao đối với phát triển của hai nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng hai bên càng cần tăng cường hợp tác hơn nữa. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn chuyến thăm đến Australia lần này sẽ tiếp tục nâng quan hệ hợp tác lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của Việt Nam và Australia.

Toàn quyền Australia Sam Mostyn bày tỏ ấn tượng về những thành tựu phát triển và sự năng động của Việt Nam, đặc biệt là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ về kinh tế, khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế; cho rằng Australia và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về tầm nhìn phát triển, coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, nguồn nhân lực chất lượng cao là những động lực chủ yếu của phát triển; khẳng định đây là nền tảng thuận lợi để hai nước mở rộng hợp tác trong những lĩnh vực mới. Bà Toàn quyền khẳng định Australia mong muốn trở thành đối tác tin cậy của Việt Nam, sẵn sàng đồng hành, hỗ trợ Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu phát triển.

Về định hướng hợp tác, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai nước tiếp tục củng cố tin cậy chính trị thông qua trao đổi cấp cao và các kênh hợp tác; mở rộng hợp tác quốc phòng - an ninh; thúc đẩy thương mại, đầu tư, hướng tới mục tiêu kim ngạch hai chiều 20 tỷ USD và tăng mạnh đầu tư hai chiều. Việt Nam mong muốn đón thêm các dòng vốn chất lượng cao từ các doanh nghiệp, quỹ đầu tư Australia thông qua Chiến lược Kinh tế Đông Nam Á đến năm 2040 của Australia, đồng thời đề nghị Nhà nước, Chính phủ Australia tiếp tục tạo thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động tại Australia.

Trong hợp tác phát triển, giáo dục và chia sẻ tri thức, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Australia tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực quản trị công, cải cách hành chính và chuyển đổi số khu vực công; mở rộng học bổng, liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và hợp tác đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành công nghiệp mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đề nghị tăng cường giao lưu văn hóa, du lịch và kết nối nhân dân, nhất là giữa thanh niên, giới nghiên cứu và các thế hệ lãnh đạo trẻ. Đánh giá cao chính sách đa văn hóa của Australia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong Australia tiếp tục tạo điều kiện để cộng đồng người Việt ngày càng phát triển, đóng góp tích cực cho xã hội Australia và trở thành cầu nối hữu nghị giữa hai nước.

Toàn quyền Australia nhấn mạnh ý nghĩa của quan hệ nhân dân và cộng đồng trong xây dựng nền tảng lâu dài cho quan hệ hai nước; đánh giá cao những đóng góp ngày càng nổi bật của cộng đồng người Việt Nam tại Australia, cũng như vai trò của sinh viên, trí thức, chuyên gia và doanh nhân Việt Nam trong thúc đẩy kết nối giữa hai nước. Australia mong muốn tiếp tục tạo môi trường thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam phát huy thế mạnh, gìn giữ bản sắc văn hóa và đóng góp vào sự đa dạng, thịnh vượng của xã hội Australia.

Hai bên cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, đề cao đối thoại, hợp tác và tôn trọng luật pháp quốc tế; cùng hướng tới một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, bao trùm và phát triển bền vững.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng mời Toàn quyền Australia Sam Mostyn thăm lại Việt Nam vào thời gian thuận tiện. Toàn quyền Sam Mostyn vui vẻ nhận lời.

Nguyễn Thị Hồng Điệp (TTXVN)








Address

Thôn Hlil 2 Xã Iapa Tỉnh Gia Lai
Gia Lai

Telephone

+84387065505

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đoàn thanh niên thôn AMA HLIL posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Đoàn thanh niên thôn AMA HLIL:

Shortcuts

Share

Category