Nhìn Từ Cần Thơ

Nhìn Từ Cần Thơ Trang Fanpage phi lợi nhuận chia sẻ về tình hình đời sống, văn hóa, xã hội từ góc nhìn của người Cần Thơ.

Viết tiếp chương hợp tác mới trong quan hệ Việt Nam-New ZealandNhận lời mời của Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng ...
13/08/2026

Viết tiếp chương hợp tác mới trong quan hệ Việt Nam-New Zealand

Nhận lời mời của Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới New Zealand.

Đánh dấu lần đầu tiên một đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam thăm New Zealand, chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang tầm vóc quan trọng với lịch sử hai nước. Đây là cơ hội vàng để các nhà lãnh đạo hai nước cùng nhìn lại hành trình đồng hành, hợp tác bền bỉ trong hơn nửa thế kỷ qua, tiếp tục trao đổi phương hướng triển khai cụ thể các nội hàm của mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-New Zealand và viết tiếp chương mới của quan hệ song phương, đưa mối quan hệ vươn lên tầm cao mới, có chiều sâu chiến lược hơn nữa.

Đây cũng là chuyến thăm New Zealand đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sau thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, kiện toàn các chức danh lãnh đạo sau bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Điều này khẳng định vững chắc Việt Nam coi trọng cao độ thúc đẩy quan hệ với New Zealand - đối tác ở khu vực Nam Thái Bình Dương thân thiện, tin cậy và giàu tiềm năng hợp tác, đồng thời góp phần thắt chặt quan hệ giữa cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các nhà lãnh đạo New Zealand. Sự bền vững, vượt qua thử thách thời gian của mối quan hệ Việt Nam-New Zealand chính là hành trang vững chắc, tiếp thêm động lực mạnh mẽ để Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Việt Nam và New Zealand tuy cách xa về địa lý nhưng là những đối tác, bạn bè chân thành, gần gũi, cùng yêu chuộng hòa bình và coi trọng sự phát triển bền vững. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1975. Hạt giống hữu nghị được gieo trồng từ hơn 50 năm trước nay đã trở thành cây xanh vươn cao.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, hai nước đã tiến những bước dài trên hành trình hợp tác, hữu nghị tốt đẹp, nổi bật là việc nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2025, năm đánh dấu mốc kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tin cậy chính trị giữa Việt Nam và New Zealand không ngừng được củng cố thông qua các cuộc tiếp xúc cấp cao thường xuyên.

Hai bên hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), ASEAN, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)…

Hợp tác giữa Việt Nam và New Zealand ghi nhận những bước phát triển mạnh mẽ. Là hai nền kinh tế có tính bổ trợ cao, hai bên gặt hái nhiều thành quả trong hợp tác thương mại, đầu tư song phương. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 12 của New Zealand. Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước có tính bổ sung cao, hàng hóa xuất khẩu cơ bản không cạnh tranh trực tiếp.

Năm 2025, kim ngạch trao đổi thương mại song phương đạt 1,5 tỷ USD, tăng 15,8% so với mức cùng kỳ năm 2024. Hai bên đang tích cực thúc đẩy năm trụ cột của Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2025-2030, hướng tới mục tiêu sớm đưa kim ngạch thương mại cán mốc 3 tỷ USD. Về đầu tư, tính đến ngày 30/6/2026, New Zealand có 61 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt 191 triệu USD. Việt Nam đầu tư sang New Zealand 13 dự án, với tổng vốn 44,5 triệu USD.

New Zealand là một trong những đối tác phát triển cung cấp ODA hàng đầu cho Việt Nam, chủ yếu thông qua các chương trình chuyển giao tri thức, đào tạo nâng cao năng lực, phát triển hạ tầng giao thông, quản lý thiên tai. New Zealand dành cho Việt Nam nguồn ODA ổn định và tăng dần theo từng năm, trung bình khoảng 16 triệu USD trong 4-5 năm. Các dự án ODA của New Zealand mang lại ý nghĩa thiết thực, đạt hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của Việt Nam.

Giáo dục là một điểm sáng nổi bật trong quan hệ song phương, với khoảng 2.000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại New Zealand, đứng thứ 5 về tỷ lệ sinh viên quốc tế tại New Zealand. New Zealand cũng hỗ trợ đào tạo tiếng Anh cho cán bộ nguồn của Việt Nam từ rất sớm. Các chương trình học bổng của New Zealand đã góp phần tích cực giúp nhiều thế hệ cán bộ Việt Nam nâng cao năng lực, phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển và hội nhập của đất nước. Bên cạnh đó, quan hệ hai nước trong các lĩnh vực như an ninh-quốc phòng, nông nghiệp, giao thông-vận tải… cũng được quan tâm thúc đẩy và gặt hái nhiều thành quả tốt đẹp.

Việt Nam và New Zealand cùng là những thành viên tích cực của nhiều tổ chức, diễn đàn khu vực, quốc tế quan trọng; đồng thời ủng hộ lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ trong thực thi CPTPP, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). New Zealand là Đối tác chiến lược toàn diện của ASEAN, coi Đông Nam Á là ưu tiên trong triển khai chính sách khu vực, trong đó Việt Nam được coi là đối tác quan trọng hàng đầu. Gần đây, New Zealand ủng hộ ứng cử viên của Việt Nam làm Thẩm phán Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) nhiệm kỳ 2026-2035.

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhằm tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam, trong đó coi trọng quan hệ với New Zealand và khu vực Nam Thái Bình Dương.

Chuyến thăm cũng lan tỏa thông điệp mạnh mẽ rằng, trên con đường tiếp tục đổi mới và bứt phá, quyết tâm hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới, Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự đồng hành, hỗ trợ toàn diện, sâu rộng từ bạn bè quốc tế, nhất là từ các Đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có New Zealand.

NHÂN DÂN

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-New Zealand (1975-2025), tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28/11/2025. (Ảnh: TTXVN)








Ảnh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Toàn quyền New ZealandSáng 13/8 (giờ địa phương), tại thành phố Auckla...
13/08/2026

Ảnh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Toàn quyền New Zealand

Sáng 13/8 (giờ địa phương), tại thành phố Auckland, sau Lễ đón chính thức, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro.

TTXVN








Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước AustraliaTheo đặc phái viên TTXVN, sáng 11/8, tại Phủ Toàn qu...
11/08/2026

Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước Australia

Theo đặc phái viên TTXVN, sáng 11/8, tại Phủ Toàn quyền Australia, thủ đô Canberra, Toàn quyền Australia Sam Mostyn đã chủ trì Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Australia từ ngày 9 đến ngày 12/8.

Tham dự lễ đón có nhiều quan chức cao cấp Australia và các thành viên Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.

Khi đoàn xe chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiến vào Phủ Toàn quyền, trong không khí nồng ấm, thắm tình hữu nghị, Toàn quyền Australia Sam Mostyn đã vui mừng đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại nơi đỗ xe, cùng lúc đó 21 loạt đại bác lần lượt vang lên chào mừng.

Toàn quyền Australia Sam Mostyn mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bước lên bục danh dự. Đội quân nhạc cử Quốc thiều Việt Nam. Đội trưởng Đội danh dự trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm duyệt Đội danh dự và Đội quân nhạc Australia. Sau khi duyệt Đội danh dự và Đội quân nhạc, Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng giới thiệu cho nhau về thành phần đoàn hai bên tham dự lễ đón.

Tiếp đó, Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đứng lên bục danh dự. Trong không khí trang nghiêm, Đội quân nhạc cử Quốc thiều Việt Nam và Quốc thiều Australia.

Sau lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến Toàn quyền Australia Sam Mostyn và tiến hành hội đàm với Thủ tướng Australia Anthony Albanese; chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác và gặp gỡ báo chí; hội kiến Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện Australia…

Việt Nam và Australia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 26/2/1973. Kể từ đó đến nay, hai nước đã xây dựng một mối quan hệ mạnh mẽ và bền bỉ với lợi ích đa dạng và ngày càng tăng. Hiện nay, Việt Nam được coi là một trong những đối tác song phương quan trọng nhất của Australia.

Quan hệ Việt Nam-Australia đang ở giai đoạn phát triển năng động nhất kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.

Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tiếp tục củng cố vững chắc vai trò là một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu của quan hệ song phương. Australia hiện là đối tác thương mại lớn thứ bảy của Việt Nam, trong khi Việt Nam khẳng định vị thế là đối tác thương mại đầy năng động của Australia tại Đông Nam Á.

Chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đã đạt 8,1 tỷ USD, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Australia bứt phá mạnh mẽ đạt 3,8 tỷ USD, tăng hơn 25%, cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân của cả nước. Đồng thời, Australia vững vàng nằm trong nhóm 10 đối tác lớn nhất của Việt Nam về thương mại, du lịch và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Cùng với những thành quả hợp tác về kinh tế, hợp tác quốc phòng và an ninh giữa hai nước cũng ngày càng đi vào chiều sâu trên nền tảng tin cậy và tôn trọng lẫn nhau. Khoa học, công nghệ và giáo dục đang nổi lên mạnh mẽ thành động lực phát triển mới của mối quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước…

Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia không chỉ là dấu mốc mở ra giai đoạn phát triển mới của quan hệ song phương, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm của lãnh đạo hai nước trong việc xây dựng quan hệ Việt Nam-Australia ngày càng hiệu quả, trên cơ sở tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.

Chuyến thăm cũng là bước triển khai quan trọng đường lối đối ngoại được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần cụ thể hóa chủ trương đưa quan hệ với các đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững.

Nguyễn Hồng Điệp (TTXVN)








Chính quyền 2 cấp từng bước tinh gọn, phục vụ nhân dân tốt hơnPhó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Tạ Văn...
29/07/2026

Chính quyền 2 cấp từng bước tinh gọn, phục vụ nhân dân tốt hơn

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Tạ Văn Hạ cho rằng, sau một năm vận hành chính quyền địa phương hai cấp, bộ máy từng bước được tinh gọn, phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, chính quyền cơ sở phát huy vai trò gần dân, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấm mạnh: Sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy mới thể hiện tính ưu việt, phù hợp, thông suốt, phát huy hiệu quả, nhưng chất lượng vận hành còn chưa đồng đều, nhất là ở cấp cơ sở.

Trao đổi với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Tạ Văn Hạ hoàn toàn thống nhất với đánh giá của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Vị đại biểu Quốc hội đoàn Đà Nẵng cho rằng, đây là một nhận định rất khách quan, toàn diện và đúng với thực tiễn sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá, sau một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã thể hiện tính ưu việt, nhưng chất lượng vận hành còn chưa đồng đều, nhất là ở cấp cơ sở. Ông nhìn nhận như thế nào về đánh giá này?

Sau một năm triển khai, những kết quả bước đầu là rất đáng ghi nhận. Bộ máy từng bước được tinh gọn, chức năng, nhiệm vụ được sắp xếp hợp lý hơn; việc phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh; nhiều thủ tục hành chính được giải quyết nhanh hơn; chính quyền cơ sở ngày càng phát huy vai trò là cấp gần dân, sát dân và trực tiếp phục vụ Nhân dân.

Điều quan trọng nhất là chúng ta cùng nhìn nhận đúng bản chất của cuộc cải cách này "Không chỉ là cuộc cải cách nhằm giảm đầu mối hay tinh giản biên chế đơn thuần, mà là một cuộc cải cách về tư duy quản trị quốc gia" chuyển từ mô hình quản lý theo cấp hành chính sang mô hình quản trị hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Có thể nói, thành công của cuộc cải cách này sẽ không phải được đo bằng việc giảm bao nhiêu đầu mối hay biên chế, mà được đo bằng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và chất lượng quản trị quốc gia. Đó cũng là mục tiêu cao nhất mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đặt ra và là định hướng mà Quốc hội sẽ tiếp tục đồng hành, hoàn thiện thể chế, tăng cường giám sát để bảo đảm cuộc cải cách đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả bền vững.

Thực tiễn triển khai tại các địa phương, đâu đang là những "điểm nghẽn" lớn nhất ảnh hưởng đến chất lượng vận hành của chính quyền cấp xã theo mô hình mới, thưa ông?

Có thể nói, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là tốc độ thích ứng của hệ thống với mô hình mới. Khi thể chế, nguồn lực, con người và công nghệ được hoàn thiện đồng bộ, mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ phát huy đầy đủ tính ưu việt, đúng như kỳ vọng của Đảng và Nhân dân.

Qua thực tiễn một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, có thể thấy các "điểm nghẽn" mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ ra là rất sát với thực tế. Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ quản trị, các điểm nghẽn này đều quy về một vấn đề cốt lõi, đó là quá trình chuyển giao quyền lực chưa hoàn toàn đồng bộ với việc chuyển giao nguồn lực và năng lực thực thi.

Thứ nhất, chất lượng đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, nhất là sau khi mở rộng địa giới và sắp xếp đơn vị hành chính. Một bộ phận cán bộ phải tiếp cận nhiều lĩnh vực mới, trong khi việc đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai, nguồn lực chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ. Cấp xã hiện đảm nhận nhiều chức năng hơn trước nhưng đội ngũ cán bộ, điều kiện làm việc, hạ tầng số, dữ liệu và kinh phí ở nhiều nơi vẫn còn hạn chế. Khi nhiệm vụ tăng mà nguồn lực chưa tương xứng thì áp lực lên chính quyền cơ sở là điều khó tránh khỏi.

Bên cạnh đó, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan chưa thật sự thông suốt, khiến nhiều thủ tục hành chính vẫn phải xử lý theo phương thức truyền thống, làm giảm hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Theo tôi, những khó khăn này là khó khăn trong quá trình chuyển đổi, không phải là hạn chế của chủ trương. Điều quan trọng hiện nay là tiếp tục hoàn thiện thể chế theo đúng tinh thần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ đạo: phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực; giao nhiệm vụ phải đi đôi với giao công cụ và trách nhiệm; tăng cường kiểm tra, giám sát nhưng không để cán bộ rơi vào tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm.

Để chính quyền địa phương 2 cấp thực sự vận hành thông suốt, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn, theo ông cần tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào trong thời gian tới?

Theo tôi, để mô hình chính quyền địa phương hai cấp thực sự vận hành thông suốt và phát huy hiệu quả, trọng tâm trong thời gian tới không phải là tiếp tục sắp xếp tổ chức, mà là hoàn thiện năng lực quản trị của bộ máy.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng phân cấp, phân quyền rõ ràng, triệt để hơn, đúng tinh thần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh là "không làm thay, không ôm giữ việc". Cấp nào được giao thẩm quyền thì cấp đó phải có đủ điều kiện để quyết định và chịu trách nhiệm; đồng thời phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực minh bạch, hiệu quả.

Thứ hai, nguồn lực phải đi cùng thẩm quyền. Giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã thì phải đồng thời bảo đảm biên chế hợp lý, nguồn lực tài chính, hạ tầng số, dữ liệu dùng chung và đào tạo đội ngũ cán bộ. Không thể yêu cầu cấp cơ sở làm tốt nếu thiếu công cụ và điều kiện để thực hiện.

Thứ ba, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị công, xây dựng chính quyền số dựa trên dữ liệu liên thông, giảm tối đa thủ tục trung gian, để người dân và doanh nghiệp chỉ cần cung cấp thông tin một lần, cơ quan nhà nước chủ động chia sẻ và khai thác dữ liệu theo quy định.

Với vai trò là cơ quan lập pháp, Quốc hội sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường giám sát việc thực hiện phân cấp, phân quyền và kịp thời điều chỉnh những quy định không còn phù hợp với thực tiễn.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Quang Phong/Báo Tin tức và Dân tộc


Những điểm mới trong nhận thức và thực hành Di sản Hồ Chí MinhNgày 13/7/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/...
28/07/2026

Những điểm mới trong nhận thức và thực hành Di sản Hồ Chí Minh

Ngày 13/7/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” (gọi tắt là Chỉ thị số 07).

Chỉ thị không chỉ kế thừa những kết quả của Chỉ thị số 05-CT/TW trước đây mà còn mở rộng nội hàm từ “học tập và làm theo” sang “học tập, thực hành”, bổ sung “phương pháp Hồ Chí Minh” là một thành tố quan trọng, gắn việc học tập với nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ nhân dân.

Chỉ thị 07 đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức và phát huy giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành động lực nội sinh cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ “làm theo” đến “thực hành”

Trong những năm qua, thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành một chủ trương lớn, xuyên suốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần quan trọng bồi đắp bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, hình thành nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình, lan tỏa những giá trị tốt đẹp của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội…

Bên cạnh đó, Đảng ta cũng đánh giá, ở một số nơi, việc học tập và làm theo Bác vẫn chưa thật sự trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên. Có nơi còn biểu hiện học tập mang tính phong trào, việc cụ thể hóa thành hành động chưa rõ nét; có nơi còn tồn tại khoảng cách giữa nhận thức và hành động, giữa cam kết và kết quả thực hiện…Bối cảnh mới đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới cả nhận thức, nội dung và phương thức tổ chức thực hiện việc học tập và làm theo Bác trong điều kiện đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Đại hội XIV xác định yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, năng lực quản trị hiện đại, gắn tinh thần cán bộ, đảng viên “6 dám” vì lợi ích chung; đồng thời xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, không chỉ nhằm kế thừa những kết quả của Chỉ thị số 05 mà còn thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về phát huy giá trị Di sản Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chỉ thị số 07 không chỉ bổ sung một số giải pháp quan trọng tổ chức thực hiện mà đã mở rộng nội hàm của việc học tập và làm theo Bác, đặt yêu cầu mới đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Nếu Chỉ thị số 05 tập trung vào “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” thì Chỉ thị số 07 phát triển thành “học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh”. Sự thay đổi phản ánh một bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận và phương thức lãnh đạo của Đảng.

Việc Đảng ta lựa chọn khái niệm “thực hành” thay cho cụm từ “làm theo” phản ánh sự chuyển biến sâu sắc trong quan niệm về học tập và vận dụng Di sản Hồ Chí Minh. “Làm theo” nhấn mạnh yêu cầu noi gương, học tập những phẩm chất, tác phong và chuẩn mực đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là yêu cầu rất quan trọng và đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong suốt quá trình triển khai Chỉ thị số 05. Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, khi yêu cầu đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia đặt ra ngày càng cao, không chỉ “làm theo”, điều quan trọng hơn là phải “thực hành”, tạo cơ sở thống nhất từ nền tảng tư tưởng, tư duy, hành động trong từng quyết sách, từng việc làm, hằng ngày, cụ thể, bền vững. Đây là quá trình chuyển hóa tri thức thành năng lực, chuyển hóa nhận thức thành hành động, chuyển hóa giá trị tinh thần thành kết quả phát triển cụ thể.

Chính vì vậy, Chỉ thị số 07 không dừng lại ở yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên học tập những lời dạy của Bác mà đòi hỏi phải biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành nền tảng tư duy; biến đạo đức Hồ Chí Minh thành chuẩn mực hành vi; biến phương pháp Hồ Chí Minh thành phương pháp lãnh đạo, quản lý; biến phong cách Hồ Chí Minh thành văn hóa công vụ và phong cách phục vụ nhân dân. Đây là bước chuyển từ giáo dục nhận thức sang kiến tạo năng lực hành động; từ học tập giá trị sang tạo ra giá trị; từ rèn luyện phẩm chất cá nhân sang nâng cao năng lực thực hành, thực tiễn gắn kết quả cụ thể.

Xác lập “phương pháp Hồ Chí Minh”

Trong những năm qua, khi nói đến học tập và làm theo Bác, chúng ta thường nhấn mạnh đến tư tưởng, đạo đức và phong cách. Đó là ba phương diện cốt lõi tạo nên nhân cách và tầm vóc Hồ Chí Minh. Chỉ thị số 07 xác lập “phương pháp Hồ Chí Minh” trở thành một thành tố, nội dung độc lập, là sự phát triển tư duy, bổ sung lý luận của Đảng về giá trị toàn diện của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới của đất nước.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam. Người cho thấy một phương pháp cách mạng đặc sắc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược; giữa tầm nhìn chiến lược và sự sâu sát thực tiễn; giữa tư duy khoa học với nghệ thuật tổ chức; giữa phát huy sức mạnh của tổ chức với khơi dậy vai trò, trách nhiệm của nhân tố con người. Chính phương pháp ấy đã giúp Đảng ta vượt qua nhiều thời điểm cam go, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Việc Đảng ta đưa “phương pháp Hồ Chí Minh” vào nội hàm học tập và thực hành không chỉ là sự kế thừa tư tưởng của Người mà còn là yêu cầu xây dựng một phương pháp lãnh đạo, hoạt động thực tiễn khoa học trong điều kiện mới. Học Bác hôm nay không chỉ là học sự giản dị, khiêm tốn, gần dân hay tinh thần cần, kiệm, liêm, chính mà còn là học cách nhìn xa trông rộng, cách nhận diện và giải quyết vấn đề, cách tổ chức lực lượng, cách huy động sức mạnh của nhân dân, cách kiểm tra công việc và cách dùng người vì lợi ích chung.

Trong bối cảnh đất nước đang thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng, năng lực lãnh đạo không chỉ được đo bằng phẩm chất đạo đức mà còn bằng phương pháp tư duy và năng lực tổ chức thực hiện. Việc học tập phương pháp Hồ Chí Minh có ý nghĩa trực tiếp trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy chiến lược, khả năng thích ứng nhanh, năng lực đổi mới sáng tạo và phong cách làm việc khoa học.

Tạo động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Một trong những điểm mới của Chỉ thị số 07 là việc đánh giá học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh bằng những giá trị được kiểm chứng trong thực tiễn lãnh đạo, quản lý và phục vụ nhân dân. Đảng ta đặt ra yêu cầu cao hơn: mọi kết quả học tập và thực hành đều phải được phản ánh bằng chất lượng hoàn thành nhiệm vụ, bằng hiệu quả công việc, bằng sự chuyển biến trong đạo đức công vụ và bằng niềm tin, sự hài lòng của nhân dân. Cách tiếp cận này hoàn toàn thống nhất với tư tưởng Hồ Chí Minh. Người từng căn dặn “cán bộ là “công bộc của dân”; việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Tư tưởng ấy ngày nay được Đảng ta phát triển thành yêu cầu đánh giá việc học tập và thực hành theo Bác bằng chính hiệu quả phục vụ nhân dân.

Có thể khẳng định, Chỉ thị số 07 không chỉ là sự tiếp nối Chỉ thị số 05 mà là một bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về phát huy giá trị Di sản Hồ Chí Minh. Nếu Chỉ thị số 05 đặt nền móng cho việc đưa tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần trong xây dựng Đảng thì Chỉ thị số 07 tiếp tục mở rộng nội hàm ấy bằng việc bổ sung phương pháp Hồ Chí Minh, chuyển từ “làm theo” sang “thực hành”, lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo, gắn việc học và thực hành theo Bác với xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới, năng lực hành động và khát vọng cống hiến.

Những điểm phát triển đó không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn mang giá trị chiến lược lâu dài trong phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa, con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu đến 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ vững bản chất cách mạng của Đảng mà còn phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả quản trị quốc gia. Chính trong bối cảnh ấy, việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trở thành nguồn lực tinh thần đặc biệt quan trọng, tạo nền tảng để xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, đạo đức và khát vọng cống hiến.

Với Chỉ thị số 07, Đảng ta không chỉ bổ sung những yêu cầu, nội hàm, giải pháp mới đối với học tập và thực hành Di sản Hồ Chí Minh mà sâu xa hơn là khẳng định một chân lý có ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ thực sự phát huy sức sống khi được chuyển hóa thành năng lực lãnh đạo, thành đạo đức công vụ, thành văn hóa hành động và những kết quả cụ thể phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Đó cũng chính là con đường để Đảng không ngừng củng cố năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, cầm quyền, nâng cao uy tín lãnh đạo và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: Hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH.

TS Lê Thế Cương (Học viện Chính trị CAND)

Báo CAND



Phát biểu khai mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 3Sáng 20/7, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấ...
21/07/2026

Phát biểu khai mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 3

Sáng 20/7, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu khai mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm:

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí đại biểu dự Hội nghị,

Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khai mạc Hội nghị lần thứ 3 để xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, nội dung về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí tham dự Hội nghị.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị Trung ương 3 diễn ra trong bối cảnh thế giới, khu vực biến động nhanh, rộng, phức tạp, khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, sự phân hóa kinh tế toàn cầu và những chuyển dịch về công nghệ, năng lượng, dữ liệu đang định hình lại môi trường phát triển. Biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và trí tuệ nhân tạo vừa mở ra cơ hội, vừa tạo ra rủi ro mới, đòi hỏi chúng ta phải nâng cao tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng và năng lực hành động quốc gia.

Trong nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang khẩn trương đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18%, tuy chưa đạt mục tiêu đề ra, nhưng cao nhất cùng kỳ 16 năm qua; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; quốc phòng, an ninh được giữ vững; đối ngoại, hội nhập quốc tế, văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển; an sinh xã hội được bảo đảm. Kết quả đáng trân trọng, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục khắc phục những hạn chế, tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện.

Đại hội XIV đã xác định đường lối, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn; Hội nghị Trung ương 2 đặt nền tảng tổ chức và quy tắc vận hành cho nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương 3 phải chuyển những định hướng đó thành quyết sách tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo năng lực phát triển mới. 13 nội dung thảo luận tại Hội nghị thuộc nhiều lĩnh vực nhưng cùng hướng tới mục tiêu cao hơn: tạo lập năng lực lãnh đạo, cầm quyền, quản trị, hành động, phát triển và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới. Vì vậy, các quyết sách được Trung ương thông qua phải tạo ra 4 bước chuyển chiến lược: Thứ nhất: nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và bộ máy Nhà nước; Thứ hai: quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia; Thứ ba: xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người; Thứ tư: chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Đây là những mục tiêu mà Hội nghị phải đạt được.

Đề nghị Trung ương tập trung trả lời câu hỏi: Mỗi quyết sách tháo gỡ điểm nghẽn nào, tạo ra năng lực mới nào và cần điều kiện gì để thực hiện, thực thi hiệu quả? Trên tinh thần đó, tôi xin gợi ý 4 trọng tâm để các đồng chí thảo luận.

I. Bước chuyển từ sắp xếp tổ chức sang nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và hệ thống chính trị

Sắp xếp tổ chức bộ máy đã tạo ra cấu trúc tinh gọn hơn. Nhưng tinh gọn mới là điều kiện; mục tiêu là Đảng lãnh đạo hiệu quả hơn, Nhà nước quản trị tốt hơn, bộ máy vận hành nhanh hơn, Nhân dân được phục vụ tốt hơn, mức sống thực của Nhân dân được nâng cao hơn. Bước chuyển này phải bảo đảm kỷ luật nghiêm minh, tổ chức rõ ràng, quyền lực được kiểm soát, trách nhiệm được thực thi; lấy chất lượng quyết sách, hiệu quả thực hiện và niềm tin của Nhân dân làm thước đo.

Quy định về những điều đảng viên không được làm phải xác định rõ giới hạn kỷ luật, nhận diện đúng những biểu hiện mới trong kinh tế thị trường, chuyển đổi số và quan hệ quyền lực - lợi ích. Kỷ luật nghiêm minh phải đi cùng bảo vệ cán bộ liêm chính, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Việc sửa đổi, bổ sung Quy định số 20 phải làm rõ tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm và quan hệ công tác của các loại hình tổ chức đảng, khắc phục chồng chéo, khoảng trống trách nhiệm, tình trạng “cơ sở trong cơ sở”, bảo đảm hoạt động thống nhất, thông suốt.

Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và Báo cáo về công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 phải giúp Trung ương đánh giá thực chất chất lượng vận hành của hệ thống chính trị sau sắp xếp: Bộ máy có thông suốt, thẩm quyền và trách nhiệm có rõ, quyết định có nhanh, đúng, người dân và doanh nghiệp có được phục vụ tốt hơn hay không? Thước đo không chỉ là số đầu mối giảm mà là hiệu lực lãnh đạo, quản lý và chất lượng phục vụ Nhân dân. Phân cấp phải đi cùng thẩm quyền, nguồn lực, nhân lực, dữ liệu, công cụ thực thi và kiểm soát quyền lực; cấp tỉnh mạnh về quy hoạch, điều phối; cấp xã gần dân, đủ sức giải quyết công việc trong mô hình mới. Cán bộ phải được đánh giá bằng phẩm chất, năng lực, sản phẩm, tiến độ, uy tín; người đứng đầu là trung tâm trách nhiệm.

II. Bước chuyển từ quản lý phân tán sang quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia

Không gian hành chính không thể giới hạn tư duy phát triển. Đất đai, biển, đô thị, hạ tầng, tài nguyên, dữ liệu phải được nhìn trong một chỉnh thể, tổ chức theo chiến lược quốc gia, lợi thế vùng, hiệu quả tổng thể. Bước chuyển này phải tạo không gian phát triển mới, đưa nguồn lực đến nơi sử dụng hiệu quả, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân, doanh nghiệp, kết nối lợi thế địa phương thành sức mạnh quốc gia.

Các Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh, thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương phải được xem xét trong yêu cầu hình thành các cực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực quản trị đô thị và tăng cường liên kết vùng. Việc thay đổi địa vị hành chính phải tạo chuyển biến thực chất về năng lực quản trị, hiệu quả huy động nguồn lực và sức lan tỏa phát triển. Cần đánh giá kỹ điều kiện hạ tầng, nguồn lực, chi phí vận hành và tác động đối với Nhân dân, bảo đảm mỗi đề án tạo ra giá trị phát triển mới cho địa phương, vùng và cả nước.

Nội dung sơ kết thực hiện Nghị quyết số 18, ngày 16/6/2022 của Trung ương khóa XIII; xác định quan điểm sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan, cùng nội dung tổng kết thực hiện Nghị quyết số 36, ngày 22/10/2018 của Trung ương khóa XII và ban hành Nghị quyết của Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh phải được xem xét trong tư duy quản trị thống nhất lãnh thổ. Trung ương cần làm rõ yêu cầu chuyển quản lý đất đai từ từng thửa đất sang quản trị không gian; từ nặng về thủ tục sang khơi thông, tạo lập nguồn lực; từ bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống, bảo đảm chỗ ở, sinh kế và điều kiện sống tương đương hoặc tốt hơn. Biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ chủ quyền; phải được quản trị tổng hợp, kết nối với đất liền, cảng biển, logistics và các hành lang kinh tế và hợp tác quốc tế. Khơi thông nguồn lực phải đi đôi với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; phân cấp phải gắn với kiểm soát đầu cơ, lãng phí, lợi ích nhóm; dữ liệu phải thống nhất, liên thông.

III. Bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người

Báo cáo tình hình kinh tế -xã hội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 và Đề án đổi mới mô hình phát triển Việt Nam phải đặt trong cùng một mạch: báo cáo trả lời việc phải làm ngay trong 6 tháng cuối năm; đề án cần phải trả lời được câu hỏi: Đất nước tạo ra của cải, sức cạnh tranh bằng cách nào trong dài hạn? GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18% là kết quả tích cực, nhưng mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% cả năm là nhiệm vụ rất thách thức. Phải phấn đấu đạt mục tiêu năm 2026, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng 2 con số bền vững; bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, khơi thông đầu tư, xử lý dự án tồn đọng, củng cố năng lực doanh nghiệp, bảo đảm việc làm, thu nhập. Kịch bản phải lượng hóa đến từng ngành, địa phương, phải tính đến các yếu tố thuận và không thuận, gắn với trách nhiệm người đứng đầu; khâu cốt tử là tổ chức thực hiện.

Về dài hạn, phải chuyển từ phụ thuộc vào vốn, tài nguyên, gia công, lao động giá rẻ sang dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, quản trị hiện đại; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập hiệu quả. Cần phát huy vai trò quản lý, kiến tạo của Nhà nước và vai trò của thị trường trong huy động, phân bổ nguồn lực; bảo đảm kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; gắn đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.

Đề án xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển là nền tảng và mục tiêu của mô hình phát triển. Phát triển phải làm cho quy mô nền kinh tế lớn hơn, xã hội tốt đẹp hơn, con người phát triển toàn diện hơn, cộng đồng gắn kết và niềm tin được củng cố. Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người; không để tăng trưởng làm gia tăng bất bình đẳng hoặc đẩy người yếu thế ra bên lề. Phải lấy con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, pháp luật và kỷ cương làm trụ cột; kết hợp pháp trị với đức trị, quyền với trách nhiệm. Thước đo cuối cùng là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của Nhân dân.

IV. Bước chuyển từ xử lý từng nguy cơ sang chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu và bảo vệ vững chắc đất nước

Trong một thế giới các nguy cơ đan xen, tác động dây chuyền, an ninh không thể chỉ được bảo đảm theo từng lĩnh vực; môi trường không thể chỉ được xử lý sau khi thiệt hại xảy ra. Bước chuyển này đòi hỏi chuyển từ phản ứng sang dự báo, từ xử lý sự vụ sang chủ động phòng ngừa; bảo đảm an ninh, an toàn và khả năng vận hành liên tục của hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và hạ tầng thiết yếu. An ninh là điều kiện của phát triển; phát triển bền vững, bao trùm, có sức chống chịu là nền tảng của an ninh.

Chiến lược an ninh quốc gia và nội dung tổng kết thực hiện Nghị quyết số 24, ngày 03/6/2013 của Trung ương khóa XI, ban hành Kết luận của Trung ương về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới phải được đặt trong tư duy thống nhất giữa bảo vệ và phát triển đất nước; chuyển mạnh từ ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo và phòng ngừa từ sớm, từ xa; nâng cao sức chống chịu quốc gia trước các nguy cơ truyền thống, phi truyền thống và tác động dây chuyền. Phải bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời bảo đảm an ninh con người, an ninh dữ liệu, an toàn hạ tầng trọng yếu và củng cố niềm tin xã hội. Phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với đối ngoại và hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Chính sách môi trường, khí hậu phải chuyển từ khắc phục hậu quả sang phòng ngừa, thích ứng, phục hồi; từ quản lý theo địa giới sang quản trị theo hệ sinh thái, lưu vực sông, vùng biển; biến chuyển đổi xanh thành động lực đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh. Trung ương cần xác định rõ lợi ích cốt lõi phải bảo vệ, nguy cơ phải ngăn chặn từ sớm, từ xa; cơ chế chỉ huy, phối hợp và cảnh báo sớm. Các dự án lớn phải tính đầy đủ sức chịu tải, chi phí môi trường, an ninh dữ liệu và trách nhiệm liên thế hệ.

Thưa các đồng chí,

Bốn bước chuyển chiến lược nêu trên tạo thành một chỉnh thể: tổ chức và con người tạo năng lực hành động; không gian và thể chế khơi thông nguồn lực; mô hình phát triển chuyển nguồn lực thành năng suất, của cải và chất lượng sống; năng lực phòng ngừa và bảo vệ giữ cho quá trình đó an toàn, liên tục, bền vững. Bất kỳ bước nào chậm cũng sẽ hạn chế các bước còn lại. Kết quả của Hội nghị phải được thể hiện ở sự thống nhất cao về nhận thức, sự đúng đắn của quyết sách và chuyển biến thực tế sau Hội nghị.

Thực hiện Quy định số 206, ngày 30/6/2026 của Bộ Chính trị về tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các tài liệu đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Thời gian Hội nghị không nhiều, khối lượng công việc lớn, nhiều vấn đề hệ trọng. Vì vậy, đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương tập trung thảo luận sâu tại tổ, thể hiện rõ quan điểm tại hội trường, góp ý trực tiếp vào Dự thảo Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch hành động; phát biểu cần ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, rõ chính kiến, rõ lập luận, rõ kiến nghị, rõ phương án lựa chọn; góp phần trực tiếp hoàn thiện quyết sách của Trung ương. Mọi lựa chọn phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; hiệu quả lâu dài của đất nước lên trên hết.

Sau hội nghị này, mỗi nghị quyết, kết luận phải được cụ thể hóa ngay thành chương trình, kế hoạch hành động, bảo đảm rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ kết quả; kiên quyết khắc phục tình trạng chủ trương đúng nhưng thể chế hóa chậm, tổ chức thực hiện không nghiêm, hiệu quả chưa cao.

Với tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đột phá và phát triển, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Báo Tin tức và Dân tộc/TTXVN





Address

Thành Phố Cần Thơ

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhìn Từ Cần Thơ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share