Tràm Xanh

Website

Tràm Xanh Lan tỏa những điều tốt đẹp trên mạng xã hội để dẹp bỏ cái xấu

05/10/2026
🇻🇳 Những ngày đầu tháng 10 đánh dấu 3 quý và 9 tháng đầu tiên của năm 2026 đã đi qua, với những kết quả đạt được và ý ng...
05/10/2026

🇻🇳 Những ngày đầu tháng 10 đánh dấu 3 quý và 9 tháng đầu tiên của năm 2026 đã đi qua, với những kết quả đạt được và ý nghĩa quan trọng cho năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Đây cũng là thời điểm ghi nhận những kết quả khá toàn diện đã đạt được trong chỉ đạo, điều hành 6 tháng đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ khóa XVI.
Trước hết, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các mục tiêu, nhiệm vụ theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Lãnh đạo chủ chốt với cách làm mới, hiệu quả.
Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV; đồng thời chủ động cập nhật, tích hợp các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện Kết luận 18 của Hội nghị Trung ương 2 vào trong Chương trình hành động để tập trung, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Đến nay, đã trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho ý kiến thông qua 109/110 đề án; nhiều vấn đề lớn, phức tạp, vướng mắc kéo dài nhiều năm đã được xử lý.
Cùng với đó, bám sát và thường xuyên đôn đốc thực hiện toàn bộ 135 nhiệm vụ được giao tại Kết luận số 18; đến nay, đã hoàn thành 90/94 nhiệm vụ giao trong 9 tháng; trong đó có nhiều nhiệm vụ khó, quan trọng, cấp bách như:
Rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành trong một số lĩnh vực trọng yếu; cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; giao bổ sung mục tiêu phát triển cho các địa phương, doanh nghiệp nhà nước.
Chính phủ cũng đã chủ động chuẩn bị và ban hành toàn bộ Chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3 ngay sau 1 tuần làm việc với tổng số 36 nhiệm vụ giao các bộ, cơ quan, địa phương. Đến nay đã hoàn thành đúng hạn toàn bộ 5/5 nhiệm vụ giao trong tháng 9/2026.
Đồng thời, thường xuyên rà soát, đánh giá để chỉ đạo nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương 2 cấp theo tinh thần Kết luận 76 của Trung ương.
Hoàn thành sắp xếp, tinh gọn các thôn, tổ dân phố (giảm 46,33%); chỉ đạo thành lập đơn vị hành chính đô thị cấp xã phù hợp với thực tiễn. Khẩn trương sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở giáo dục, giảm được 18.975 đầu mối (50,6%); từng bước khắc phục tình trạng thiếu giáo viên cục bộ.
Kịp thời ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ; trong đó đã xử lý tình trạng chồng chéo, giao thoa chức năng giữa một số bộ, một số lĩnh vực, tạo sự đồng bộ, thống nhất, hiệu quả trong quản lý nhà nước, nhất là trong lĩnh vực địa chất, khoáng sản; việc quản lý, chỉ đạo các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.
Thứ hai, dấu ấn rất rõ là Chính phủ nhiệm kỳ này đã tập trung, quyết liệt triển khai công tác xây dựng pháp luật và hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý cho quá trình phát triển, từng bước khẳng định là khâu đột phá chiến lược Đại hội XIV của Đảng đã lựa chọn.
Dự kiến năm 2026, Chính phủ trình Quốc hội thông qua khoảng 78 luật, nghị quyết, trong đó có nhiều nội dung quan trọng, tác động lớn; qua đó, cơ bản tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản lớn về thể chế để khơi thông nguồn lực phát triển.
Đồng thời, chỉ đạo quyết liệt việc hạn chế tối đa số lượng văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết theo quan điểm "một luật chỉ ban hành một nghị định quy định chi tiết".
Trong 9 tháng, đã ban hành 465 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó 123 văn bản quy định chi tiết. Đặc biệt, đã khắc phục được tình trạng chậm, nợ đọng các văn bản quy định chi tiết, trong đó có gần 20 văn bản nợ đọng kéo dài (từ 1/7/2024).
Thứ ba, Chính phủ quyết liệt, tập trung khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô. GDP quý sau tăng cao hơn quý trước, quý III ước tăng 9,95%; GDP 9 tháng ước tăng 9,01%, cao nhất trong 15 năm qua.
Xuất khẩu, nhập khẩu 9 tháng đạt 888 tỷ USD, tăng 30,4%, tháng 9 đã đổi chiều xuất siêu 1,27 tỷ USD sau nhiều tháng nhập siêu. Thu hút khách quốc tế 9 tháng đạt khoảng 17,7 triệu lượt khách, tăng 14,5%. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường 9 tháng đạt gần 224.000 doanh nghiệp, cao hơn số rút lui khỏi thị trường (172.000 doanh nghiệp).
Các tổ chức uy tín quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực về khả năng chống chịu và đà tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam trong khi hạ dự báo tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu.
Đặc biệt, triển khai quyết liệt các giải pháp giảm chi phí đầu vào cho nền kinh tế: Chỉ đạo tăng cường sản xuất trong nước, đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, thực hiện kịp thời, linh hoạt các giải pháp miễn, giảm thuế, phí, sửa đổi các quy định về kinh doanh, phân phối để bảo đảm ổn định nguồn cung xăng dầu.
Tập trung huy động, điều tiết linh hoạt các nguồn điện, tiết giảm chi phí sản xuất để cung ứng đủ điện cho sản xuất, sinh hoạt và không tăng giá điện.
Thực hiện hiệu quả, chặt chẽ công tác quản lý thuốc, vật tư y tế với yêu cầu cắt giảm tối đa đầu mối, khâu trung gian, bảo đảm giảm chi phí cho người bệnh. Quyết liệt chỉ đạo sửa đổi Luật Đất đai và các luật liên quan nhằm kiểm soát giá đất, bất động sản ở mức hợp lý.
Đôn đốc tháo gỡ khó khăn, xử lý các dự án vướng mắc, tồn đọng, kéo dài: Từ tháng 4/2026 đến nay đã xử lý vướng mắc cho 2.535 dự án (đưa vào sử dụng 86,6 nghìn ha; khơi thông nguồn vốn trên 1,76 triệu tỷ đồng), nâng tổng số dự án được tháo gỡ lên 3.557 dự án (tổng diện tích đất trên 139 nghìn ha và tổng mức đầu tư hơn 2,49 triệu tỷ đồng).
Tham mưu Quốc hội ban hành Nghị quyết về cơ chế đặc thù để xử lý một số khó khăn, vướng mắc đối với các dự án điện gió, điện mặt trời; qua đó từng bước đưa vào khai thác 172 dự án điện với công suất gần 9,8 nghìn MW; dự kiến khơi thông khoảng 13 tỷ USD đã đầu tư, khả năng thu về cho ngân sách nhà nước 50 nghìn tỷ đồng.
Quyết liệt đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tập trung tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, nguồn cung vật liệu xây dựng. Giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng đạt 640 nghìn tỷ đồng, đạt 62,6% kế hoạch (cao hơn cùng kỳ khoảng 180 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối và 12% về tỉ lệ); Chính phủ đã và đang chỉ đạo điều chỉnh kế hoạch vốn trên 89 nghìn tỷ đồng. Sau khi điều chỉnh vốn và trừ tiết kiệm 5% ngân sách địa phương, tỉ lệ giải ngân dự kiến đạt trên 65%.
Chính phủ chủ động báo cáo Bộ Chính trị, trình Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 (trên cơ sở hợp nhất 4 Chương trình trước đây), khắc phục tình trạng dàn trải, giao thoa về đối tượng, địa bàn và nhiệm vụ; kinh phí thực hiện từ nguồn chi thường xuyên giảm hàng chục nghìn tỷ đồng để chuyển sang nhiệm vụ chi đầu tư khác. Đồng thời, đã giao bổ sung ngay dự toán chi thường xuyên ngân sách Trung ương năm 2026 để triển khai thực hiện.
Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn nhưng thị trường vốn được thúc đẩy, thị trường chứng khoán được nâng hạng; trong 9 tháng tổng giá trị huy động vốn của doanh nghiệp trên thị trường tăng 12%. Vốn FDI đăng ký 9 tháng ước đạt gần 50,4 tỷ USD, tăng 76,4%, thực hiện ước đạt trên 21 tỷ USD, tăng 12,1%.
Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia để tạo động lực mới cho tăng trưởng. Ngay sau khi Ban Chỉ đạo Trung ương được kiện toàn, Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban Chỉ đạo đã ưu tiên triển khai đồng bộ các giải pháp đề ra tại Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 57. Đến nay, đã hoàn thành 1.326/2.011 nhiệm vụ (đạt 66,1%). Doanh thu công nghiệp công nghệ số tháng 9 ước đạt gần 771 nghìn tỷ đồng (tăng 36% so với cùng kỳ năm 2025). Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghệ 9 tháng đạt trên 175 tỷ USD, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Chỉ đạo xử lý, giải quyết thực chất, hiệu quả các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp, chỉ trong 3 tháng, lãnh đạo Chính phủ đã tổ chức 9 hội nghị với cộng đồng, hiệp hội doanh nghiệp tiêu biểu. Đến nay, đã có 120/202 nhóm kiến nghị của các doanh nghiệp đã được trả lời, giải quyết dứt điểm.
Cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh được triển khai quyết liệt. Từ tháng 4/2026 đến nay, đã bãi bỏ 56 và sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; phân cấp 408 thủ tục hành chính về địa phương; đơn giản hóa 803, cắt giảm 945 thủ tục hành chính và 1.754 điều kiện kinh doanh; đã công bố tái cấu trúc 851 thủ tục hành chính; cắt giảm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ (tiết kiệm khoảng 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm) cho người dân, doanh nghiệp, vượt yêu cầu tại Kết luận số 18 và là mức cắt giảm lớn nhất từ trước đến nay.
Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực, 9 tháng ước thu 2,2 triệu tỷ đồng, đạt gần 90% so với kế hoạch, tăng trên 12% so với cùng kỳ; đồng thời đã miễn, giảm thuế, phí ước khoảng 344,4 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, việc chỉ đạo thực hiện thiết thực, hiệu quả công tác an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế được nhân dân ủng hộ, đánh giá cao. Công tác chăm lo cho người có công được chú trọng; chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ được triển khai quyết liệt; đã tìm kiếm, quy tập hơn 3.000 và lấy mẫu 205.000 hài cốt liệt sĩ. Đã khởi công hỗ trợ nhà ở cho 2.800/3.408 hộ con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp. Chỉ đạo gấp rút hoàn thành 107 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền chỉ trong chưa đầy 1 năm.
Triển khai quyết liệt, bố trí đủ nguồn lực thực hiện khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho hơn 52 triệu người dân; hoàn thiện Đề án đầu tư xây dựng 510 điểm, trạm y tế xã biên giới giai đoạn 2026-2030; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và tạo lập trên 40 triệu sổ sức khỏe điện tử. Đã đưa vào vận hành hiệu quả bệnh viện Việt Đức và Bạch Mai cơ sở Ninh Bình sau nhiều năm chậm tiến độ.
Chỉ đạo quyết liệt đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, bảo đảm an sinh xã hội. Từ đầu năm đến nay cả nước có 108 dự án nhà ở xã hội hoàn thành với 31.353 căn hộ được đưa vào sử dụng; 109 dự án mới được khởi công với quy mô 153.762 căn, trong đó 41.204 căn hộ để cho thuê. Riêng từ tháng 4/2026 đến nay, cả nước đã khởi công 22 dự án nhà ở cho thuê với trên 33.400 căn hộ.
Thứ năm, quốc phòng, an ninh được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai toàn diện, thực chất. Chủ động nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Triển khai chủ động, tích cực công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Từ đầu năm đã ký kết hơn 350 cam kết, thỏa thuận quốc tế mới, tiếp tục mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực, đa dạng hóa đối tác và tạo thêm động lực cho tăng trưởng. Đồng thời, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thường xuyên chỉ đạo rà soát, đôn đốc và cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch, dự án và cơ chế hợp tác cụ thể theo hướng thực chất, hiệu quả.
Thứ sáu, Quy chế làm việc của Chính phủ được thực hiện nghiêm túc, có nhiều điểm mới: Đổi mới, cải tiến phương thức họp; xây dựng lịch họp khoa học, tần suất hợp lý; nội dung ngắn gọn, rõ ràng, tập trung; tăng cường trao đổi, hội ý và chỉ đạo trực tiếp những vấn đề trọng tâm.
Số lượng đề án, báo cáo, dự án theo chương trình công tác và số nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, cơ quan, địa phương lớn (tháng 9 là 1.730, lũy kế 9 tháng là 11.849 nhiệm vụ) nhưng cơ bản đã được thực hiện đúng tiến độ; tỉ lệ quá hạn chỉ còn 0,79%.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, vẫn còn một số vấn đề nổi lên cần phải tiếp tục nỗ lực, cố gắng để triển khai thực hiện, như tăng trưởng kinh tế 9 tháng tuy cao (9,01%) nhưng vẫn thấp hơn 0,99% so với mục tiêu cả năm; một số địa phương tăng trưởng thấp; các đầu tàu kinh tế cũng chưa đạt mức tăng trưởng đề ra.
Doanh nghiệp tiếp cận vốn còn khó khăn; điều hành tỉ giá, lãi suất chịu nhiều sức ép từ bên ngoài. Năng lực sản xuất, làm chủ công nghệ của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế; vẫn còn nhập siêu. Một số bộ, ngành, địa phương chậm giải ngân vốn đầu tư công. Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chưa tạo đột phá trong nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Phát triển văn hóa-xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân nổi lên một số vấn đề cần tập trung xử lý (sắp xếp trường lớp học, tình trạng thiếu sách giáo khoa, hoàn thiện hệ thống phân phối thuốc, thiết bị y tế...)
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, áp lực và thách thức trong 3 tháng cuối năm là rất lớn, đây là giai đoạn nước rút, có ý nghĩa quyết định, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương cần đánh giá đúng tình hình; xác định trực tiếp, cụ thể dư địa và động lực tăng trưởng để khai thác tối đa; tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn; các giải pháp cụ thể phải đủ mạnh, khả thi để tạo chuyển biến tích cực hơn nữa trong quý IV.
Quan trọng nhất là xác định quyết tâm, lộ trình và nhiệm vụ để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của quý IV và cả năm 2026, từ đó tạo nền tảng, tạo đà, tạo thế, tạo lực, tạo điều kiện cho năm 2027 là năm bứt phá và tiến tới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ.
TTCP

NỀN TẢNG CHO MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚINghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ, về kinh tế, xá...
05/10/2026

NỀN TẢNG CHO MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ, về kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Khoa học, công nghệ đi vào từng dây chuyền sản xuất, từng sản phẩm, ngành hàng và phương thức quản trị, đang “đánh thức” những nguồn lực truyền thống, tạo thêm giá trị và sức cạnh tranh cho nền kinh tế.

Những chuyển động từ thực tiễn

Mô hình phát triển đất nước có vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở định hướng chiến lược cho toàn bộ quá trình phát triển quốc gia. Một mô hình phát triển đúng đắn sẽ giúp xác định động lực tăng trưởng, phương thức phân bổ nguồn lực, cơ chế vận hành của nền kinh tế và định hình các ưu tiên phát triển trong dài hạn.

Những năm qua, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển đất nước có bước chuyển biến rõ rệt. Tư duy phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng được khẳng định trong hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện ở các ngành, lĩnh vực, địa phương và doanh nghiệp.

Chia sẻ về hiệu quả chuyển đổi đưa khoa học và công nghệ vào sản xuất, Giám đốc Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì Đào Công Trường cho biết, năm 2007 khi thành lập cơ sở sản xuất bánh sữa, mọi công đoạn đều thủ công, sữa được nấu bằng bếp truyền thống, bánh được cán bằng tay, gói bằng giấy nên 100kg sữa tươi chỉ làm được khoảng 13kg bánh sữa.

Gần đây khi chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang chế biến hiện đại với quy trình ứng dụng khoa học, kỹ thuật từ khâu chăn nuôi, vắt sữa, vận chuyển, bảo quản, kiểm nghiệm, phân tích độ béo, chất khô đến vi sinh, tồn dư kháng sinh và chế biến; ứng dụng công nghệ sấy lạnh ở nhiệt độ âm 40oC… thì sản lượng, chất lượng sản phẩm của công ty tăng lên đáng kể. Công ty đang liên kết với 45 hộ dân, quy mô gần 300 con bò sữa, mỗi ngày thu mua khoảng 5,3 tấn sữa tươi; có 5 sản phẩm của công ty được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia; 15 sản phẩm đạt OCOP 4 sao cấp thành phố.

Ở góc độ địa phương, theo Thạc sĩ Thái Thị Thu Hường, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên, ngành khoa học và công nghệ tỉnh có những đóng góp quan trọng ở các khâu đột phá, giải quyết những vấn đề trọng tâm. Bình quân giai đoạn 2021-2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt khoảng 8,62%/năm; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP bình quân đạt 46,94%; riêng năm 2025 đạt 52,27% cho thấy mô hình tăng trưởng của tỉnh đang từng bước chuyển từ “dựa vào vốn và lao động” sang “dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo”.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, kết thúc năm 2025, doanh thu toàn ngành ước đạt 5.465.819 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2024; giá trị đóng góp vào GDP ước đạt 1.443.769 tỷ đồng. Báo cáo kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm 2026 của Bộ Tài chính cho thấy, trong 9 tháng qua, cơ quan quản lý đã tiếp nhận 132.701 đơn sở hữu công nghiệp, xử lý 160.848 đơn và cấp 64.815 văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp; tổng giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ được Bộ Khoa học và Công nghệ đăng ký đạt 15.997,198 tỷ đồng.

Định hướng phát triển bền vững

Mặc dù nhận thức chung về vai trò của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đã được nâng lên nhưng thị trường khoa học và công nghệ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Trong đó, nguồn lực khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số còn phân tán; liên kết viện-trường-doanh nghiệp và giữa nghiên cứu với sản xuất, thị trường còn yếu; phần lớn doanh nghiệp trong nước hạn chế về vốn, nhân lực, năng lực hấp thụ và R&D.

Theo Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước, tạo việc làm cho hơn 40 triệu lao động, hiện diện ở hầu hết lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực đang chịu áp lực lớn nhất trước yêu cầu về vốn, công nghệ, nhân lực số, quản trị dữ liệu, khả năng đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo dữ liệu số, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh, hộ chiếu số sản phẩm, quản trị điện tử, bảo vệ dữ liệu, thương mại điện tử xuyên biên giới…

Theo các chuyên gia, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được kết nối thành chuỗi: Nghiên cứu-phát triển công nghệ-thử nghiệm-sản xuất- thương mại hóa-mở rộng thị trường. Vấn đề trọng tâm hiện nay không chỉ là lựa chọn thêm công nghệ hoặc tăng đầu tư, mà là hình thành năng lực quốc gia để tiếp nhận, làm chủ, cải tiến, sản xuất và thương mại hóa công nghệ. Thước đo cần chuyển dần từ số lượng nhiệm vụ, đề tài và kinh phí sang việc Việt Nam làm chủ được khâu nào trong chuỗi giá trị; doanh nghiệp nào có thể tích hợp, sản xuất; viện, trường nào tạo được tri thức và nhân lực; hạ tầng nào được dùng chung; sản phẩm nào đã qua thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa và có thị trường.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, đổi mới mô hình tăng trưởng không đồng nghĩa với việc bổ sung một số chương trình khoa học hoặc nền tảng số vào mô hình cũ. Đó là sự thay đổi toàn diện cách phân bổ nguồn lực, tổ chức nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp, thu hút FDI, đào tạo nhân lực, quản trị dữ liệu và đánh giá kết quả. Thước đo cuối cùng không phải số lượng đề án hoặc kinh phí đã chi, mà là mức tăng năng suất, sản phẩm mới, doanh nghiệp lớn mạnh, công nghệ được làm chủ, việc làm có thu nhập cao và giá trị gia tăng được giữ lại trong nước.

Giai đoạn tới, thành công phụ thuộc vào khả năng biến định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW thành cơ chế thực thi có trọng tâm, có nguồn lực, có chủ thể chịu trách nhiệm và có hệ thống đo lường minh bạch. Khi thể chế khuyến khích thử nghiệm, doanh nghiệp trở thành trung tâm, viện-trường gắn với thị trường, đầu tư R&D đạt đủ ngưỡng và dữ liệu được khai thác an toàn, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới có thể trở thành động lực chính của tăng trưởng nhanh và bền vững.

Nhiều chuyên gia cho rằng, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế có thu nhập thấp, tương đối khép kín, sang nền kinh tế có độ mở lớn, có năng lực sản xuất công nghiệp và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ sang mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam khẳng định phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thật sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đó là những định hướng tạo dựng nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vững mạnh nhằm phát triển kinh tế-xã hội đất nước đột phá và bền vững./.

Báo Nhân dân

RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH TRONG CÁCH TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CHẤT LƯỢNG CAONgười dân được tiếp cận y tế chất lượng cao sớm hơn,...
05/10/2026

RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH TRONG CÁCH TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CHẤT LƯỢNG CAO

Người dân được tiếp cận y tế chất lượng cao sớm hơn, thuận lợi hơn; người bệnh nặng có thêm cơ hội được cứu sống trong thời gian vàng; gia đình giảm chi phí khi không phải đi xa; năng lực y tế của cả khu vực cùng mạnh lên… Đó là những hiệu quả nhìn thấy được sau hơn ba tháng Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình đi vào hoạt động.

Y tế chất lượng cao đã gần dân hơn

Dẫn chúng tôi trực tiếp đến nhiều khoa, phòng nhất là những “điểm nóng” như cấp cứu, chống độc, chẩn đoán hình ảnh… Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đánh giá: điều đáng nói nhất sau ba tháng không chỉ nằm ở những con số, mà là niềm tin của người dân đối với một cơ sở y tế mới đã hình thành rất nhanh.

Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình chính thức hoạt động từ ngày 26/6/2026 với cơ cấu 37 khoa, đơn vị chuyên môn, 76 phòng khám, 1.029 giường bệnh thực kê với 1.302 cán bộ, nhân viên, trong đó có 323 bác sĩ và 657 điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y.

Sau hơn ba tháng đi vào hoạt động các bác sĩ đã thực hiện 151.518 lượt khám ngoại trú, 12.869 lượt khám cấp cứu và điều trị nội trú cho 17.428 lượt người bệnh. Công suất sử dụng giường bệnh gần nhất đạt khoảng 112%. Bệnh viện thực hiện 4.768 ca phẫu thuật, 32.532 lượt thủ thuật cùng khối lượng lớn về chẩn đoán hình ảnh, nội soi và xét nghiệm.

Kết quả ba tháng đầu tiên cho thấy một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã bắt đầu được chuyển hóa thành lợi ích cụ thể đối với người dân. Trước đây, một người bệnh nặng ở Ninh Bình hay các tỉnh lân cận muốn tiếp cận kỹ thuật chuyên sâu thường đi Hà Nội, phải di chuyển xa hơn, gia đình phải đi theo, phát sinh chi phí ăn ở, thời gian và nhiều áp lực khác. Bây giờ, nhiều dịch vụ chuyên môn có thể được thực hiện ngay tại Ninh Bình. Y tế chất lượng cao đã gần dân hơn. Đó là hiệu quả xã hội quan trọng nhất.

Những kết quả ấy cũng cho thấy người dân đã lựa chọn Bạch Mai cơ sở Ninh Bình và nhu cầu tiếp cận dịch vụ chuyên sâu ngay tại khu vực rất lớn. Y tế chất lượng cao đã gần dân hơn. Đó là hiệu quả xã hội quan trọng nhất.

Chúng tôi đang đưa năng lực chuyên môn của Bạch Mai về đây. Những kỹ thuật chuyên sâu như: can thiệp mạch não, can thiệp mạch vành, thay van động mạch chủ qua ống thông… đã được triển khai. Có những trường hợp đặc biệt nguy kịch như vỡ tim đã được cấp cứu, hồi sức và phẫu thuật thành công ngay tại cơ sở.

Không chỉ người dân Ninh Bình. Người bệnh từ Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Yên, Phú Thọ, một phần địa bàn Hà Nội và Hải Phòng… đã chọn Bạch Mai Ninh Bình. Đối với người bệnh nặng, đôi khi khoảng cách không được tính bằng ki-lô-mét. Nó được tính bằng phút. Đưa được năng lực cấp cứu, hồi sức và kỹ thuật chuyên sâu đến gần người dân chính là tạo thêm cơ hội sống cho người bệnh trong thời gian vàng.

Với việc đưa cơ sở Ninh Bình vào hoạt động cũng tạo thêm một trung tâm chuyên môn ở khu vực, giúp phân bổ hợp lý nhu cầu khám, chữa bệnh giữa hai cơ sở của Bạch Mai; đồng thời từng bước phát huy hiệu quả nguồn lực Nhà nước đã đầu tư. Trong hơn 17 nghìn lượt người bệnh điều trị nội trú, có hơn 16 nghìn lượt người bệnh được bảo hiểm y tế chi trả. Vì vậy, giá trị của cơ sở hướng tới khả năng tiếp cận rộng rãi của nhân dân, trong đó có những người cần được hỗ trợ nhiều nhất về chi phí điều trị.

Với người thầy thuốc, hiệu quả ấy thể hiện ở cơ hội cứu chữa. Với người quản lý, đó còn là trách nhiệm sử dụng nguồn lực công để phục vụ người dân, bảo đảm chất lượng và an toàn trong từng khâu vận hành.

Khoảng cách được rút ngắn

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Xuân Cơ một nút thắt lớn đang từng bước được tháo gỡ là khoảng cách giữa nơi có năng lực y tế chuyên sâu và nơi người dân đang sinh sống. Hiện, ngành y tế có những bệnh viện tuyến cuối rất mạnh, nhưng nếu nhiều người bệnh nặng đều phải tập trung về Hà Nội thì sẽ tạo áp lực lên bệnh viện trung ương, trong khi người bệnh và gia đình phải chịu thêm chi phí xã hội.

Bạch Mai cơ sở Ninh Bình thực hiện cách tiếp cận đưa chuyên gia, công nghệ, quy trình và năng lực chuyên môn đến gần người bệnh. Việc đưa cơ sở vào hoạt động cũng từng bước chuyển nguồn lực đã đầu tư thành năng lực phục vụ thực tế.

Nhưng Bạch Mai về Ninh Bình không phải để thay thế y tế Ninh Bình, càng không lấy việc thu hút người bệnh từ các bệnh viện địa phương làm mục tiêu phát triển. Nếu Bạch Mai phát triển mạnh mà y tế địa phương không mạnh lên thì mới hoàn thành một phần nhiệm vụ. Mục tiêu dài hạn là hình thành một hệ thống phối hợp trong đó y tế cơ sở làm tốt chăm sóc sức khỏe ban đầu và quản lý bệnh mạn tính; bệnh viện địa phương phát triển kỹ thuật phù hợp với năng lực và phạm vi chuyên môn; Bạch Mai đảm nhiệm vai trò chuyên sâu, tuyến cuối, đồng thời đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ chuyên môn.

Mỗi tuyến làm đúng việc. Khi đó, người bệnh nhẹ được chăm sóc phù hợp ngay tại cơ sở; người bệnh nặng được chuyển đúng nơi, đúng thời điểm; và những kỹ thuật có thể chuyển giao thì phải từng bước giúp địa phương tự thực hiện được. Đó là cách nâng năng lực của cả hệ thống và sử dụng hiệu quả nguồn lực y tế.

Một định hướng quan trọng được lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai đưa ra và thực hiện đó là một Bạch Mai, hai cơ sở, một chất lượng. Người bệnh đến Bạch Mai tại Hà Nội hay Ninh Bình đều phải được phục vụ trên cùng tinh thần trách nhiệm, cùng chuẩn mực chuyên môn và cùng yêu cầu về an toàn người bệnh.

Trong thời gian tới, Bệnh viện sẽ từng bước mở rộng số giường phù hợp với nhu cầu thực tế; đồng bộ nhân lực, trang thiết bị, thuốc và vật tư; tiếp tục phát triển kỹ thuật cao, chuyên sâu; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường luân phiên chuyên gia, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật.

Nhưng tầm nhìn của chúng tôi không dừng ở việc mở rộng một cơ sở khám, chữa bệnh. Chúng tôi mong muốn Bạch Mai Ninh Bình trở thành một hạt nhân chuyên môn của vùng, kết nối với hệ thống y tế địa phương và các tỉnh lân cận, đồng thời phát triển đào tạo và nghiên cứu khoa học ngay trên nền tảng thực hành lâm sàng.

Nhưng muốn đi xa, phải có đội ngũ. Vì vậy, định hướng chiến lược đang được thúc đẩy thành lập Trường đại học Y Dược Bạch Mai trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai, để gắn chặt đào tạo nguồn nhân lực y tế với khám, chữa bệnh và nghiên cứu khoa học. Chúng tôi hướng tới đào tạo những cán bộ có kiến thức vững, năng lực thực hành tốt, tư duy khoa học và trách nhiệm với người bệnh, với cộng đồng.

Tại Ninh Bình đã có cơ sở của hai bệnh viện Bạch Mai, Hữu nghị Việt Đức và định hướng tới đây có thêm Bệnh viện Lão khoa Trung ương sẽ tạo nền tảng thực hành lâm sàng rất thuận lợi. Cụm các bệnh viện chuyên sâu sẽ mở ra điều kiện đặc biệt thuận lợi để đào tạo nhân lực y tế trên nhiều lĩnh vực, từ nội khoa, ngoại khoa, cấp cứu, hồi sức đến chăm sóc người cao tuổi và các bệnh lý phức tạp. Lợi thế ấy phải được chuyển thành sự phối hợp thực chất. Định hướng của bệnh viện là kết nối đội ngũ giảng viên và chuyên gia, xây dựng chương trình đào tạo gắn với năng lực thực hành, phối hợp tổ chức thực tập lâm sàng, phát triển nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào chăm sóc người bệnh. Khi triển khai, các hoạt động cần đáp ứng đầy đủ điều kiện đào tạo và bảo đảm an toàn, quyền lợi của người bệnh.

Đây cũng là cơ hội đào tạo và bồi dưỡng nhân lực cho Ninh Bình và các tỉnh trong khu vực. Người học được tiếp cận môi trường chuyên môn sâu; cán bộ địa phương có điều kiện cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng và trở về phục vụ tốt hơn tại đơn vị của mình. Giá trị của cụm bệnh viện vì thế được lan tỏa qua cả hoạt động chữa bệnh lẫn năng lực của đội ngũ y tế trong vùng.

“Đối với chúng tôi, khám, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu phải hỗ trợ lẫn nhau. Thực tiễn lâm sàng đặt ra câu hỏi cho nghiên cứu; nghiên cứu giúp cải thiện chẩn đoán, điều trị; đào tạo đưa tri thức và kỹ năng ấy đến với thế hệ cán bộ tiếp theo… Đó là nền tảng để chất lượng được duy trì và phát triển lâu dài”- Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Xuân Cơ khẳng định./.

Báo Nhân dân

TĂNG MẠNH PHỤ CẤP, TẠO ĐỘNG LỰC GIỮ CHÂN NHÂN VIÊN Y TẾTăng phụ cấp, ưu tiên các vị trí việc làm khó thu hút và hướng tớ...
05/10/2026

TĂNG MẠNH PHỤ CẤP, TẠO ĐỘNG LỰC GIỮ CHÂN NHÂN VIÊN Y TẾ

Tăng phụ cấp, ưu tiên các vị trí việc làm khó thu hút và hướng tới mức phụ cấp ưu đãi nghề 100% là những giải pháp nhằm cải thiện chính sách đãi ngộ, thu hút và giữ chân nhân viên y tế. Tuy nhiên, để cán bộ y tế yên tâm gắn bó lâu dài, cần đồng thời cải thiện điều kiện hành nghề và cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Bộ Y tế đã tham mưu Chính phủ ban hành hai nghị định quan trọng về chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tế, trong đó mức phụ cấp trực, phẫu thuật, thủ thuật và chống dịch được điều chỉnh tăng đáng kể so với quy định trước đây; phụ cấp ưu đãi nghề được quy định từ 30% đến 80%, đặc biệt quan tâm đến lực lượng y tế cơ sở, y tế dự phòng và những vị trí việc làm có tính chất đặc thù.

Chia sẻ tại buổi cung cấp thông tin cho báo chí ngày 1/10 vừa qua, lãnh đạo Bộ Y tế cho biết, cùng với việc triển khai các chính sách đã ban hành, Bộ Y tế đang nghiên cứu lộ trình nâng phụ cấp ưu đãi nghề lên 100% đối với các đối tượng theo quy định, đồng thời cải thiện điều kiện hành nghề, tạo động lực để nhân viên y tế yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với ngành.

Phụ cấp trực, chống dịch tăng đáng kể

Bộ Y tế đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 192/2026/NĐ-CP quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế, hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản; Nghị định số 350/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế.

Theo bà Lê Lan Hương, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế, 2 Nghị định từng bước hoàn thiện chính sách đãi ngộ, ghi nhận rõ hơn tính chất lao động đặc thù và trách nhiệm nghề nghiệp của nhân viên y tế, nhất là tại những vị trí khó thu hút nhân lực, lĩnh vực y tế cơ sở và y tế dự phòng.

Theo đó, Nghị định số 192 điều chỉnh các chế độ phụ cấp trực, phẫu thuật, thủ thuật và chống dịch, thay thế quy định áp dụng từ năm 2011. Mức phụ cấp được điều chỉnh tăng trung bình 182% so với năm 2011.

Tại thời điểm xây dựng nghị định, mức lương cơ sở đã tăng từ 830.000 đồng lên 2.340.000 đồng. Cùng với sự thay đổi của mức lương cơ sở, nhiều chế độ phụ cấp cũng được điều chỉnh tăng đáng kể, phù hợp hơn với tính chất công việc và trách nhiệm của nhân viên y tế.

Đáng chú ý, phụ cấp trực đối với cán bộ y tế tại trạm y tế cấp xã tăng từ 25.000 đồng lên 185.000 đồng. Phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật cũng được điều chỉnh tăng. Đối với nhân viên y tế tham gia chống dịch bệnh truyền nhiễm nhóm A, mức phụ cấp chống dịch trước đây là 115.000 đồng, nay tăng lên 420.000 đồng.

Đặc biệt, phụ cấp trực 24/24 giờ tại các khoa, khu vực đặc biệt được tính bằng 1,5 lần mức thông thường. Chế độ phụ cấp chống dịch được quy định gắn với nhiệm vụ thực tế và nhóm bệnh truyền nhiễm, góp phần bảo đảm chính sách đãi ngộ tương xứng hơn với yêu cầu công việc.

Đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản, mức hỗ trợ hằng tháng được nâng lên hệ số 0,5 và 0,7 lần mức lương cơ sở, thay cho các mức hệ số 0,3 và 0,5 được áp dụng từ năm 2009.

Những điều chỉnh này không chỉ cải thiện thu nhập thông qua các chế độ phụ cấp mà còn thể hiện sự quan tâm đối với đội ngũ làm việc tại các cơ sở y tế dự phòng, trạm y tế cấp xã và những môi trường có cường độ lao động cao, nguy cơ rủi ro nghề nghiệp lớn.

Ưu tiên vị trí khó thu hút, hướng tới phụ cấp 100%

Cùng với việc điều chỉnh các chế độ phụ cấp đặc thù, Nghị định số 350/2026/NĐ-CP quy định mức phụ cấp ưu đãi nghề hằng tháng từ 30% đến 80%, thực hiện từ ngày 1/1/2026.

Mức phụ cấp 80% áp dụng đối với viên chức thường xuyên, trực tiếp làm công tác hồi sức cấp cứu, bao gồm cấp cứu, hồi sức tích cực và chống độc; viên chức làm việc trong các lĩnh vực giám định pháp y, pháp y tâm thần và giải phẫu bệnh.

Đặc biệt, viên chức làm chuyên môn y tế tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng được hưởng mức phụ cấp ưu đãi nghề 70% hoặc 80% tùy theo địa bàn. Mức 80% áp dụng tại địa bàn biên giới, hải đảo, xã khu vực II, khu vực III vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đây cũng là chính sách được quy định tại Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 261 của Quốc hội, thể hiện định hướng ưu tiên nguồn lực cho y tế cơ sở, y tế dự phòng và những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 350 so với quy định trước đây là phụ cấp ưu đãi nghề được xác định theo vị trí việc làm thay vì theo chức danh nghề nghiệp, phù hợp với Luật Viên chức có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.

Bà Lan Hương cho biết, việc điều chỉnh cách xác định mức hưởng theo vị trí việc làm góp phần bảo đảm chính sách phụ cấp gắn với công việc thực tế, tính chất nhiệm vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của viên chức y tế.

Tuy nhiên, cải thiện thu nhập mới là một trong những điều kiện để thu hút, giữ chân nhân lực y tế. Đối với bác sĩ làm việc tại các vị trí khó thu hút, khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và những địa bàn khó khăn, việc duy trì đội ngũ nhân lực còn phụ thuộc vào điều kiện hành nghề, cơ sở vật chất, trang thiết bị và cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Do đó, theo bà Lan Hương, bên cạnh chính sách phụ cấp, cần có các giải pháp đồng bộ để nhân viên y tế có điều kiện thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, được đào tạo, hỗ trợ chuyên môn và bảo đảm đời sống phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của từng địa phương.

Đồng bộ chính sách đãi ngộ và điều kiện làm việc

Thứ trưởng thường trực Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết, trong thời gian tới, Bộ Y tế tập trung vào 3 lĩnh vực ưu tiên nhằm đưa chính sách vào thực tiễn, tiếp tục hoàn thiện chế độ đãi ngộ và cải thiện điều kiện hành nghề, tạo động lực thu hút nhân lực y tế.

Trước hết, Bộ Y tế sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn thực hiện các chính sách theo thẩm quyền; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để các đơn vị xác định đúng đối tượng, mức hưởng và bảo đảm việc chi trả kịp thời. Việc bố trí kinh phí thực hiện cần bảo đảm đầy đủ theo trách nhiệm và phân cấp ngân sách hiện hành.

Hai là, Bộ Y tế tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ. Theo quy định tại Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 261 của Quốc hội, cần có lộ trình thực hiện phụ cấp ưu đãi nghề lên mức 100% đối với các đối tượng đặc thù nêu trên.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là cải thiện điều kiện hành nghề và cơ hội phát triển nghề nghiệp, nhất là tại y tế cơ sở. Bộ Y tế sẽ ban hành Thông tư quy định định mức nhân lực đối với trạm y tế cấp xã, làm cơ sở để các địa phương xây dựng phương án bố trí, tuyển dụng và sử dụng nhân lực phù hợp với mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của trạm y tế trong giai đoạn mới, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân.

Việc xác định định mức nhân lực phù hợp nhằm bảo đảm số lượng, cơ cấu nhân viên y tế, góp phần giảm áp lực công việc, hạn chế tình trạng một nhân viên phải đảm nhiệm quá nhiều nhiệm vụ, đồng thời bố trí chế độ trực và nghỉ ngơi hợp lý, tạo điều kiện để cán bộ y tế học tập, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn.

Bộ Y tế cũng sẽ phối hợp với các địa phương củng cố cơ sở vật chất, trang thiết bị, tăng cường đào tạo, hỗ trợ chuyên môn từ tuyến trên và thúc đẩy các giải pháp hỗ trợ đời sống phù hợp với điều kiện thực tế.

Việc hoàn thiện chính sách phụ cấp đi đôi với bảo đảm nhân lực, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp được kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở, tạo điều kiện để cán bộ y tế yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với ngành, đáp ứng yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong giai đoạn mới./.

Báo Nhân dân

Address

Cà Mau

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tràm Xanh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share