Tự hào Việt Nam

Tự hào Việt Nam Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Tự hào Việt Nam, Nonprofit Organization, Ba đình, Ba ĐÌnh.

Trang này đăng tải thông tin về những thành tựu đã đạt được của Việt Nam trong lĩnh vực khoa học - văn hóa - kinh tế - xã hội...nhằm khích lệ thêm tinh thần yêu nước, niềm tự hào về quê hương đất nước mình.

Kim Ngọc - (tên thật là: Kim Văn Nguộc, 10 tháng 10 năm 1917 – 26 tháng 5 năm 1979) là nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh P...
07/09/2025

Kim Ngọc - (tên thật là: Kim Văn Nguộc, 10 tháng 10 năm 1917 – 26 tháng 5 năm 1979) là nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc, ông được mệnh danh là "cha đẻ của khoán hộ" mà người ta quen gọi là "khoán mười", "cha đẻ của Đổi mới trong nông nghiệp" ở Việt Nam.

Cuộc đời và sự nghiệp
Ông sinh ngày 10 tháng 10 năm 1917 tại thôn Đại Nội, xã Bình Định, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Yên Lạc), tỉnh Phú Thọ.

Năm 1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1946 ông làm Bí thư Huyện ủy Tam Dương.

Năm 1947 ông làm Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Vĩnh Yên.

Năm 1950 ông làm Bí thư Huyện ủy Bình Xuyên.

Ông từng làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, từng tham gia khu ủy Việt Bắc;

Năm 1954 ông là Phó Chính ủy Quân khu Việt Bắc, Chính ủy Cục Công binh, sau đó là Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ.

Đến năm 1958 là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc (từ tháng 3 năm 1952 đến tháng 10 năm 1955 và từ tháng 1 năm 1959 đến 1968).

Kim Ngọc được bầu là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa II (từ 1960 đến 1964) và là trưởng đoàn đại biểu quốc hội của tỉnh Vĩnh Phúc[1].

Năm 1968 hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Phú, ông tiếp tục giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú cho đến năm 1977.

Tháng 5 năm 1977, tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ III, Kim Ngọc xin rút khỏi chức bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú.

Năm 1978, Kim Ngọc chính thức về hưu.

Ngày 26 tháng 5 năm 1979 Kim Ngọc mất ở tuổi 62 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức, Hà Nội.[2]

Kim Ngọc là người khởi xướng việc "khoán hộ" trong nông nghiệp ở Việt Nam vào thập niên 60 của thế kỷ 20. Thời kỳ đó do áp dụng mô hình tổ chức kinh tế tập thể của Liên Xô, lại đang trong hoàn cảnh chiến tranh cần đề cao tinh thần tập thể, nên các nhân vật cấp cao trong đảng Cộng sản đã không ủng hộ phương thức khoán hộ. Kim Ngọc phải làm kiểm điểm và tự nhận "có sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ". Tuy nhiên, ông vẫn được tiếp tục bầu làm bí thư tỉnh uỷ.

Theo lời ông Nguyễn Thành Tô, thư ký riêng của Kim Ngọc, thì ông chưa bao giờ bị kỷ luật, kể cả trong khoán hộ mà "chỉ" bị làm bản kiểm điểm và tự phê bình nghiêm túc, sau khi có chỉ đạo trực tiếp của Trường Chinh, lúc bấy giờ là Chủ tịch Quốc hội.

Quan điểm
“ Xã viên không coi ruộng đất là của mình nên họ chẳng thiết tha gì với đồng ruộng. Phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình. ”
— Kim Ngọc [3]
“ Không thể bỏ khoán hộ. Phải tìm mọi cách duy trì dưới mọi hình thức khác nhau. ”
— Kim Ngọc [4]
Cống hiến
Cách khoán của Khoán hộ
Khoán cho hộ làm một khâu hoặc nhiều khâu sản xuất trong một thời gian dài;
Khoán cho hộ các khâu dài ngày hoặc suốt vụ;
Khoán sản lượng cho hộ, cho nhóm;
Khoán trắng ruộng đất cho hộ - Hình thức khoán trắng đơn giản, dễ tính toán nên được nông dân hưởng ứng rầm rộ và tự nó đã thành phong trào quần chúng rộng rãi trong toàn tỉnh Vĩnh Phúc. Có thể nói khoán hộ là bước mở đầu cho một tư duy mới về quản lý kinh tế hợp tác xã.[5]
Sáng kiến "khoán hộ" hay "Cải tiến công tác quản lý lao động hợp tác xã" năm 1966 và cho đến năm 1977-1978 Sáng kiến khoán hộ được áp dụng tại Đoàn Xá - Kiến Thụy - Hải Phòng, khi đó Đảng ủy xã Đoàn Xá với ông Phạm Hồng Thưởng làm Phó bí thư Đảng ủy đã có quyết định "xé rào" thực hiện "khoán chui" cho nông dân giao thí điểm 20% diện tích cho các hộ trồng lúa, cuối vụ đó bà con bội thu., Sau những mô hình đó [6] đã dẫn đến việc ngày 3/1/1981 Ban bí thư ra Chỉ thị 100 về Thực hiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp trên toàn quốc. Sau đó, đến năm 1988 thì Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp hay còn được gọi là "Khoán 10", tháo bỏ sự ràng buộc, kìm hãm của cơ chế quản lý lạc hậu, đưa Việt nam bao năm thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới.[7] Nghị quyết 10 hoàn toàn dựa trên những kinh nghiệm đúc kết của nhiều tỉnh thành Việt Nam đã âm thầm áp dụng khoán hộ của Kim Ngọc.[2]

Phong cách làm việc
Thời gian biểu làm việc của Kim Ngọc:

1/3 thời gian dành cho việc đi thực tế ở các cơ sở;

1/3 thời gian dành cho việc đọc các loại sách báo, văn bản;

1/3 thời gian dành cho các cuộc hội họp.

Đánh giá
“ Công lao anh Kim Ngọc thật lớn, cần phải dựng tượng để tỏ lòng biết ơn con người như anh Kim Ngọc. ”
— Nguyễn Văn Linh [2]
“ Nông dân ta no ấm, trước hết là nhờ ơn Đảng, ơn Bác Hồ. Nhưng trong quá trình xây dựng đất nước thì chúng ta phải cảm ơn Kim Ngọc, một đảng viên sáng tạo, dám chịu trách nhiệm đến cùng trước nhân dân... Đất nước phải biết ơn anh Kim Ngọc. Một người tâm huyết dám đưa ra cái mới, đến bây giờ đất nước có phát triển là nhờ có lúa gạo mà anh Ngọc đã đi tiên phong... ”
— Đại tướng Võ Nguyên Giáp
[8]

“ Bài học về khoán hộ ở Vĩnh Phú mãi còn giá trị, không phải ở cách cụ thể mà đồng chí Kim Ngọc giải quyết mà là ở chỗ ông đồng cảm sâu sắc trước tình cảnh đói nghèo của người dân, cùng đau nỗi đau của họ và dám tháo bỏ những quy định mà thực tiễn đã chứng tỏ không phù hợp để thúc đẩy phát triển. ”
— Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) Trương Đình Tuyển
Tôn vinh
Nhiều nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam về công tác Vĩnh Phúc hoặc đi ngang qua đều vào nhà thắp hương cho Kim Ngọc. Các đoàn đại biểu ở các tỉnh, nhất là các tỉnh phía Nam, có nhiều đảng viên cộng sản lão thành, khi thắp hương cho Kim Ngọc đã ứa nước mắt.[8]

Năm 1995, ghi nhận những đóng góp công lao, trí tuệ của ông cho sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho Kim Ngọc.

Năm 1996, hai ngôi trường nơi ông sinh ra ở xã Bình Định, huyện Yên Lạc được đặt tên ông. Năm 2005, một trong những con đường đẹp nhất của thành phố Vĩnh Yên cũng được mang tên ông.[7]

Năm 2004, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam tặng gia đình ông bức tượng tạc bằng đồng nặng tới 45 kg để biểu thị lòng kính trọng Kim Ngọc.

Năm 2009, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.[9]

Từ ngày 27/9/2010-21/1/2011, Ban sản xuất các chương trình phim truyện của VTV có cho ra đời bộ phim truyền hình 50 tập "Bí thư Tỉnh ủy" lấy nguyên mẫu cuộc đời ông.

Gia đình
Phu nhân là bà Lê Thị Liên (sinh 1921); vợ chồng ông có sáu người con. Con trưởng là Kim Sơn (sinh năm 1945) tốt nghiệp kỹ sư chế tạo máy tại CHDC Đức, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại Sở Thương mại Vĩnh Phúc. Con trai thứ ba là Luật gia Kim Nam (sinh năm 1954) tốt nghiệp ngành Luật nguyên Giám đốc Sở Tư pháp Vĩnh Phúc, nguyên Bí thư Thị ủy Vĩnh Yên, nguyên Trưởng Công an Thị Xã Vĩnh Yên.
Nguồn wikipedia Tiếng Việt
Trang
https://www.facebook.com/kyara.tuhaovietnam/
nhằm tôn vinh các nhân vật có công với đất nước và nhân dân Việt Nam

15/08/2025

Sáng 2/9, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hà Nội sẽ long trọng tổ chức Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bắt đầu từ 6h30 và kết thúc lúc 10h.

Nữ tiến sĩ gốc Việt nổi danh ở nước ngoài, được Tổng thống Đức trao huân chươngHoàng LinhMai Thi Nguyen-Kim là tiến sĩ h...
20/06/2025

Nữ tiến sĩ gốc Việt nổi danh ở nước ngoài, được Tổng thống Đức trao huân chương
Hoàng Linh

Mai Thi Nguyen-Kim là tiến sĩ hóa học và gương mặt nổi bật trong truyền thông khoa học tại Đức. Bà được Tổng thống Đức trao huân chương nhờ khả năng truyền tải kiến thức khoa học một cách hấp dẫn qua YouTube và truyền hình.
Tháng 10/2020, Giáo sư Đàm Thanh Sơn - nhà vật lý người Việt nổi tiếng đang làm việc tại Mỹ - chia sẻ trên trang cá nhân về một sự kiện đặc biệt: Tiến sĩ Mai Thi Nguyen-Kim, nhà hóa học gốc Việt, được Tổng thống Đức trao tặng Huân chương Thập tự Liên bang (Bundesverdienstkreuz). Đây là huân chương toàn liên bang duy nhất của Đức, ghi nhận những đóng góp xuất sắc của bà trong việc đưa kiến thức khoa học đến công chúng một cách sinh động, dễ hiểu và truyền cảm hứng.

Từ đó, hình ảnh Mai Thi trở thành biểu tượng mới trong giới truyền thông khoa học châu Âu - không chỉ tại Đức mà còn lan tỏa trong cộng đồng người Việt toàn cầu.

Từ cô bé 'xấu xí' đến biểu tượng truyền cảm hứng khoa học

Mai Thi Nguyen-Kim sinh năm 1987 tại Heppenheim (Đức) trong một gia đình người Việt. Bố mẹ bà sang Đức du học từ miền Nam Việt Nam hơn nửa thế kỷ trước. Bố bà là một nhà hóa học và cũng chính ông là người truyền cảm hứng đầu tiên cho con gái trong hành trình đến với khoa học.

Trong cuốn sách nổi tiếng Komisch, alles chemisch (tạm dịch: Kỳ lạ thay, mọi thứ đều là hóa học), bà viết:

“Bố tôi là một nhà hoá học và ông nấu ăn cũng rất ngon. Ông bảo tôi: Tất cả các nhà hóa học đều biết nấu ăn - nếu anh không biết nấu ăn, anh không thể làm ngành hóa được.

Lúc tôi 13 tuổi và bắt đầu thích trang điểm, bố tôi giải thích tất cả mọi thứ cho tôi nghe: Chất nhuộm màu như thế nào, keo xịt tóc hoạt động ra sao, kem bôi mặt có độ pH bao nhiêu. Hóa học luôn là một phần của cuộc sống của tôi”.

Với niềm đam mê ấy, Mai Thi theo học ngành Hóa học tại Đại học Mainz, sau đó tiếp tục nghiên cứu tại các viện hàng đầu như MIT, Harvard (Mỹ), RWTH Aachen và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Potsdam. Đề tài nghiên cứu của bà tập trung vào vật liệu hydrogel và polymer - lĩnh vực có nhiều ứng dụng trong y học và kỹ thuật.

Tại Việt Nam, vài năm gần đây, tiến sĩ Mai Thi Nguyen-Kim được nhiều độc giả trong nước biết tới với tư cách là tác giả của 2 cuốn sách bán chạy được dịch từ tiếng Đức: Ngộ quá, cái gì cũng hóa (năm 2021) và Đừng như con ếch lên dây cót - Khoa học trong thời đại tin giả (năm 2024).

Tại Đức, Mai Thi là gương mặt quen thuộc trên truyền hình, không chỉ với vai trò nhà khoa học mà còn là người dẫn chương trình từng đoạt Giải Grimme danh giá.
Khi giới thiệu về bà trong chương trình “20 gương mặt - 20 câu chuyện” hồi đầu tháng 5 vừa qua nhân dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Đức, Viện Goethe viết: Với phong cách sinh động, hài hước và dễ tiếp cận, tiến sĩ Mai Thi Nguyen-Kim truyền tải những khái niệm khoa học phức tạp qua nhiều chương trình truyền hình và trên kênh YouTube maiLab của bà. Với hơn một triệu người theo dõi, bà là một trong những YouTuber nổi tiếng nhất tại Đức. Nền móng sự nghiệp khoa học ấn tượng của bà được xây dựng từ khi theo học ngành hóa học tại Mainz, MIT, Harvard, Aachen và Potsdam.

Bước từ phòng thí nghiệm đến truyền hình đại chúng

Khi đang là nghiên cứu sinh tại Đại học RWTH Aachen (Đức), Mai Thi sớm bộc lộ khả năng chia sẻ về khoa học một cách cuốn hút và hài hước.

Một trong những video đầu tiên của bà tại RWTH năm 2013 đến nay vẫn là một trong những clip được xem nhiều nhất của trường. Năm 2015, bà ra mắt kênh YouTube The Secret Life of Scientists nhằm thay đổi hình ảnh nhà khoa học khô khan trong mắt công chúng.

Từ các cuộc thi như "Science Slam", bà bước ra đời sống số với kênh YouTube maiLab, giảng giải về các chủ đề khoa học “khó nhằn” bằng thứ ngôn ngữ trẻ trung, gần gũi và dí dỏm. Đến nay, kênh này đã có hơn 1,4 triệu người theo dõi, trở thành một trong những kênh YouTube về khoa học phổ biến nhất tại Đức.

Ngoài YouTube, Mai Thi xuất hiện trong các chương trình truyền hình như Quarks, Terra X hay mới đây là MAITHINK X - die Show trên kênh ZDFneo. Bà đưa các chủ đề phức tạp như kỹ thuật di truyền, bất bình đẳng giới trong khoa học, trí tuệ nhân tạo… đến gần công chúng, bằng những mô hình hoạt hình sinh động, kết hợp các yếu tố hài hước nhưng vẫn nhưng vẫn giàu hàm lượng học thuật.

Theo Rwth-aachen, sự đóng góp của Mai Thi trong việc gắn kết khoa học với xã hội đã được trao nhiều giải thưởng danh giá như Aachen Engineering Award - cùng với các tên tuổi lớn như Sebastian Thrun hay nữ giáo sư đoạt Nobel Emmanuelle Charpentier. Nhưng quan trọng hơn cả, bà là người làm cho khoa học trở nên gần gũi hơn với công chúng - đặc biệt là trong giai đoạn đại dịch Covid-19, khi khoa học đóng vai trò then chốt trong các quyết định chính sách.

Giáo sư Ulrich Rüdiger, Hiệu trưởng Đại học RWTH Aachen từng nhận định: “Từ nhiều năm nay, tiến sĩ Mai Thi Nguyen-Kim đã nâng truyền thông khoa học lên một tầm cao mới. Bà kết nối khoa học với công chúng và giới hoạch định chính sách một cách dễ hiểu và thuyết phục”.
Theo vnexpress ngày 17.6.2025
ảnh: Stern.de

Việt Nam tôi có những con người như thế ấy.Tình cờ đọc bài báo về Đạo diễn Đặng Nhật Minh, con của bác sỹ Đặng Văn Ngữ v...
10/07/2024

Việt Nam tôi có những con người như thế ấy.
Tình cờ đọc bài báo về Đạo diễn Đặng Nhật Minh, con của bác sỹ Đặng Văn Ngữ và bà Tôn Nữ Thị Cung, lòng vòng thế nào lại ra bài về tướng Cao Văn Khánh. Xin chia sẻ để mọi người cùng tìm hiểu và ngẫm về thế sự.

Cao Văn Khánh (1917-1980) là một tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông qua đời vì bị bệnh ung thư gan và được xác định gây nên bởi di chứng của chất diệt cỏ Dioxin.

Thuở thiếu thời
Ông sinh năm 1917 tại Huế, trong một gia đình quý tộc trí thức của triều Nguyễn. Ông có ba anh trai. Cao Văn Huy là Hiệu trưởng nhiều trường ở Huế và Nha trang. Cao Văn Chiểu, rất gần gũi Ngô Đình Diệm, từng là dân biểu Trung kỳ, rồi Chủ tịch Ủy ban Văn Hóa giáo dục Hạ nghị viện VNCH, Sứ thần VNCH tại Rome từ những năm 1970. Anh thứ ba-Luật sư Cao Văn Tường ba lần đắc cử dân biểu Lập hiến và Lập pháp Cộng hòa (1956-1963), đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội. Thời đệ nhị Cộng hòa (1969) là Bộ trưởng Đặc trách liên lạc Quốc hội rồi Thượng nghị sĩ Quốc hội VNCH (4/1975).

Ông từng học bằng Cử nhân Luật tại Đại học Đông Dương, và tham gia phong trào Hướng đạo Pháp. Cũng tại đây, ông có những tiếp xúc với một số trí thức trẻ nổi tiếng như Phan Anh, Tạ Quang Bửu....

Ông lại không làm nghề luật mà trở thành một giáo sư tư thục dạy toán ở Huế, và tiếp tục tham gia phong trào Hướng đạo Trung Kỳ.

Con đường binh nghiệp
Sau khi chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, do sự vận động của Phan Anh và Tạ Quang Bửu, ông tham gia trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến[4]. Hiệu trưởng là ông Phan Tử Lăng.

Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia thành lập và là Phó Chủ tịch Giải phóng quân Huế, với cốt cán chỉ huy ban đầu là học viên Thanh niên tiền tuyến. Giải phóng quân Huế sau này đã sáp nhập với Việt minh.

Khi quân Pháp nổ súng tại Nam Bộ, ông được cử theo đội quân Nam tiến, tiến quân vào Bình định và trở thành Ủy viên quân sự tỉnh Bình Định.

Tháng 10 năm 1945, ông được cử làm Khu trưởng Khu V (chức vụ tương đương quân hàm Đại tá?) (với Chính ủy là Trần Lương, chính là tướng Trần Nam Trung sau này), rồi Chỉ huy phó phân sở của Ủy ban Hành chính Kháng chiến miền Nam (do Nguyễn Sơn làm Chủ tịch), phụ trách các tỉnh từ Phú Yên đến Bình Thuận.

Giữa năm 1946, khi Đại đoàn 27 ra đời, ông được cử làm Đại đoàn trưởng. Tháng 12 năm 1946, ông trở lại làm Khu trưởng Khu V một lần nữa.

Tháng 8 năm 1949, ông được điều ra Bắc để tổ chức thành lập Đại đoàn 308 (Quân Tiên Phong) Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ Tổng Tư lệnh [5]. Là Đại đoàn phó chỉ huy tác chiến chiến lược, ông cùng Đại đoàn tham gia các chiến dịch lớn nhất của QDNDVN như Sông Thao 1949, Lê Hồng Phong 1950, Biên Giới 1950, Hoàng Hoa Thám 1951, Hòa Bình 1951, Quang Trung 1952, Tây Bắc, Thượng Lào 1953... Ông tham gia tổ chức và hỗ trợ chỉ huy trực tiếp những trận đánh ác liệt nhất như trận Phố Lu, Tu Vũ. Vĩnh Yên....Trong chiến dịch Biên giới, khi đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ bị chảy máu dạ dày phải nằm lại điều trị, ông được tướng Giáp giao chỉ huy Đại đoàn 308, trong cùng ngày đã lập chiến công lẫy lừng diệt cả hai Binh đoàn Le Page và Binh đoàn Charton, lực lượng tiến công lớn của Pháp ở Đông Dương, và bắt sống Charton. Đây là ngày được coi là bi thảm nhất của quân viễn chinh Pháp.

Từ 1950, các cố vấn Trung Quốc yêu cầu thay đổi tổ chức quân đội Việt Nam, đưa binh lính nông dân lên chỉ huy, loại bỏ dần trí thức, ông và các chỉ huy xuất thân trí thức đã bị ảnh hưởng nhiều qua các kỳ chỉnh huấn-chỉnh quân. sau này cũng ít được nhắc đến, dù họ đóng vai trò rất quan trọng trong xây dựng và trưởng thành của quân đội.

Năm 1953, Cao Văn Khánh (đđ 308) và Lê Trọng Tấn (312). được tướng Giáp giao nghiên cứu chuyên đề "Tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm". Đây là cơ sở để xây dựng thành phương án tác chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đầu năm 1954, để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, ông chỉ huy một bộ phận của đại đoàn này, cơ động mở đường hành quân sang Lào, tấn công quân Pháp dọc tuyến sông Nậm Hu, nhằm tiêu hao lực lượng có khả năng tiếp viện và bịt trước đường rút lui dự kiến của binh đoàn Pháp tại lòng chảo Điện Biên.

Sau Hiệp định Genève, ông về Bộ Tổng Tham mưu, làm Cục trưởng Cục Quân huấn 1954-1958.

Tháng 4 năm 1958, ông giữ chức Cục trưởng Cục tổ chức Kế hoạch, kiêm Cục trưởng Cục Nhà trường, thuộc Tổng cục Quân huấn [6].

Năm 1960 ông cùng nhóm tướng lĩnh cao cấp, sang Liên xô cũ, học tại Học viện quân sự cao cấp Vorosilov.

Cũng thời gian này, tháng 10 năm 1960, ông trở thành Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân.

Tháng 3 năm 1964, ông được điều làm Phó tư lệnh, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 3, QDNDVN nhằm mục đích tổ chức "Kế hoạch phòng thủ miền Bắc", và chuẩn bị cho chiến trường miền Nam.

Từ năm 1966 đến 1969, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó tư lệnh của Chiến trường B3, Quân khu Trị Thiên, Quân khu IV.

Tháng 5 năm 1970, ông là Tư lệnh Mặt trận 968 Hạ Lào. Tháng 10 năm 1970, ông được cử làm Tư lệnh Binh đoàn B70, Binh đoàn chiến thuật chiến lược đầu tiên của QDNDVN, tiền thân của các Quân đoàn sau này.

Từ tháng 2 năm 1971, ông là Phó tư lệnh Mặt trận Đường 9 Nam Lào, rồi Tư lệnh Mặt trận B5, kiêm Phó tư lệnh Quân khu 4, Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông chính là kiến trúc sư của chiến dịch nổi tiếng Đường 9 Nam Lào (chống lại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của phía Việt Nam Cộng Hòa).

Từ tháng 12 năm 1972, ông trở thành Tư lệnh Quân khu Trị Thiên. Có thể nói, Cao Văn Khánh gắn bó với chiến trường miền Trung và Tây Nguyên suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, liên tục với các chiến dịch lớn như Đắc Tô (1967), Khe Sanh (1968), Đường 9 Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên (1974).

Năm 1974, ông được điều về lại Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam với chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng. Ông là Tổ trưởng Tổ Thường trực chỉ đạo tác chiến chiến lược do Tướng Võ Nguyên Giáp thành lập ngày 12-4-1975, đề xuất phương án tác chiến trong chiến dịch 1975 tiến tới kết thúc chiến tranh 30 năm, thống nhất đất nước.

Năm 1978, trên cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất, ông chủ trì biên soạn "Năm phương thức tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc", chuẩn bị cho cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc.

Thiếu tướng (1974), rồi Trung tướng (1980)

Ông mất năm 1980 tại Hà Nội do bệnh ung thư gan.

Vợ ông từ chối an táng chồng tại nghĩa trang Mai Dịch (dành cho cán bộ cao cấp). mà chọn nghĩa trang Yên Kỳ,[7] để ông được nằm cạnh đồng đội đại đoàn 308 tại chiến trường năm xưa, và cạnh hai con trai ông, cũng được chôn tại đây.

Cuộc sống gia đình
Năm 1949, trong buổi nói chuyện với các sinh viên trường Đại học Y khoa Việt Bắc, ông gặp một nữ sinh viên người đồng hương là Nguyễn Thị Ngọc Toản. Ngày 22 tháng 5 năm 1954, ông bà tổ chức đám cưới tại Điện Biên Phủ sau ngày chiến thắng, ngay trong hầm của tướng Christian de Castries.

Vợ của ông, bà Nguyễn Thị Ngọc Toản xuất thân trong gia đình quý tộc triều Nguyễn. Cha của bà là ông Tôn Thất Đàn, từng giữ chức Thượng thư bộ Hình. Tên gốc của bà là Tôn Nữ Ngọc Toản. Người chị gái của bà là Tôn Nữ Thị Cung là phu nhân của Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ.

Bà Ngọc Toản hiện đang là Giáo sư, Bác sĩ Quân y, hàm Đại tá, Phó chủ tịch Hội phụ sản Việt Nam. Bà cũng là Ủy viên Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/Dioxin. Bà cũng là tác giả một số sách y học, với các chuyên đề về sinh sản và giới tính, kiến thức về bệnh ung thư gan... được người đọc đánh giá cao.

Ông bà có với nhau 4 người con, 3 trai 1 gái.

Người con trai đầu tên là Cao Quý Vũ, là học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi [8], đã qua đời trong chiến tranh.

Người con trai thứ là Cao Quý Bảo từng phục vụ bộ đội, đã rời ngũ và hiện là doanh nhân, chủ nhân khu Resort Vạn Chài ở Thanh Hóa. Người con gái duy nhất là Cao Thị Bảo Vân hiện là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dược khoa, Viện phó Viện Paxtơ thành phố Hồ Chí Minh.

Người con trai út là Cao Quý Anh đã qua đời vào năm 2003 do bệnh ung thư gan từ di chứng của Dioxin.

Bản thân tướng Cao Văn Khánh cũng được xác định qua đời do bệnh ung thư gan từ di chứng của Dioxin. Theo lời của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự kể với nhà báo Phùng Nguyên, trong một chuyến công tác qua huyện A Lưới – Thừa Thiên Huế, có năm người gồm cả tướng Cao Văn Khánh, ông và 3 người nữa, đã có đi qua một khu vực bị rải Dioxin làm trụi lá cây. Sau chiến tranh, 4 người trong chuyến công tác ấy đều chết vì ung thư gan, riêng tướng Nguyễn Đôn Tự sinh một người con gái bị di chứng chất độc da cam, gây chậm phát triển.

Theo wikipedia tiếng Việt
ảnh sưu tầm trên mạng và tư liệu từ https://www.facebook.com/tuongcaovankhanh

Siêu du thuyền Alliga Eternity có chiều dài 120m, gồm 308 căn hộ cao cấp, đầy đủ tiện ích như bể bơi vô cực, nhà hàng sa...
06/06/2024

Siêu du thuyền Alliga Eternity có chiều dài 120m, gồm 308 căn hộ cao cấp, đầy đủ tiện ích như bể bơi vô cực, nhà hàng sang trọng, quán bar, khu phức hợp thể thao và nhiều tiện ích đẳng cấp khác. Không gian vô cùng lớn, có thiết kế nhiều tầng tích hợp tất cả các hoạt động vui chơi giải trí thượng lưu, tất cả các căn hộ trên du thuyền đều có tầm nhìn hướng ra biển…

Du thuyền Alliga Eternity hoàn toàn được thiết kế, thi công sản xuất bởi con người Việt Nam, đây là một niềm tự hào tuyệt vời cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp hàng hải, ngành công nghiệp đóng tàu và ngành du lịch Việt Nam.

Với sự kết hợp nghệ thuật trong thiết kế của Siêu du thuyền Alliga Eternity, các kiến trúc sư đã khéo léo đưa nét hiện đại cùng với hình ảnh truyền thống trong dân gian Việt Nam là hình chim Hạc – biểu tượng cho sự trường tồn và phát triển. Cùng với đó là ý nghĩa luôn gìn giữ và phát huy nét văn hoá của dân tộc Việt Nam trên từng đường nét thiết kế trong các sản phẩm của Tập đoàn Alliga hiện tại và sau này.

Nguồn tin,ảnh: Tổng hợp từ Internet

https://www.facebook.com/Congtyhinhanhvaquangcaokyara/ 090 417 37 39 chuyên Thiết kế - Chụp ảnh - Quảng cáo - Nội thất

Bức tranh một triệu USD của Việt NamTác phẩm sơn mài mang tên "Gióng" là trọng tâm trong một lễ hội ở Anh, sau đó trở th...
06/06/2024

Bức tranh một triệu USD của Việt Nam
Tác phẩm sơn mài mang tên "Gióng" là trọng tâm trong một lễ hội ở Anh, sau đó trở thành bảo vật quốc gia.
"Đối với tôi, bức tranh Gióng là một trong những ví dụ điển hình nhất về vẻ đẹp và ý nghĩa sâu sắc mà nghệ thuật sơn mài Việt Nam có thể tạo ra", bà Susan Bayly - Giáo sư, Tiến sĩ Nhân học lịch sử tại Khoa Nhân học xã hội, Đại học Cambridge (Anh) nhận xét về tác phẩm trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Tới Hà Nội lần đầu vào năm 2000, địa điểm trong danh sách ưu tiên của bà Bayly là toà nhà ở số 66 Nguyễn Thái Học. Bà kể lại: "Lần nào đến Hà Nội tôi cũng ghé thăm Bảo tàng. Mỗi khi ngắm các tác phẩm lộng lẫy ở đây, tình yêu của tôi càng thêm sâu sắc với những di sản tượng trưng cho sức sáng tạo và tầm nhìn nghệ thuật của người Việt Nam".

Năm 2013, Bảo tàng Khảo cổ học và Nhân chủng học (MAA) của Anh tổ chức "Lễ hội Ý tưởng: Tôn vinh Nghệ thuật, Nhân văn và Khoa học xã hội" với trọng tâm là bức tranh Gióng của hoạ sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, do GS. TS. Susan Bayly (đại diện MAA) phụ trách kết nối với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam để đưa bức tranh đi triển lãm. Lễ hội thu hút hàng nghìn người tham gia kể từ lần đầu tổ chức năm 2008.

MAA là bảo tàng trực thuộc đại học Cambridge - nơi sở hữu một trong những bộ sưu tập quan trọng nhất Vương quốc Anh, gồm một triệu hiện vật với niên đại trải dài gần 2 triệu năm lịch sử loài người trên tất cả 6 lục địa.

Sự kiện đánh dấu lần đầu tiên ngôi trường đại học hơn 800 tuổi trưng bày một tác phẩm nghệ thuật Việt Nam tại Vương quốc Anh, đồng thời kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước. Thời điểm đó, bức tranh được định giá bảo hiểm lên tới một triệu USD, mức cao nhất trong lịch sử cho một bức tranh sơn mài Việt Nam. Tác phẩm sáng tác năm 1990 được đánh giá là thành công nhất trong loạt tranh chủ đề Gióng của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, một trong những tên tuổi hàng đầu của nền hội hoạ Việt Nam hiện đại.

"Với sự giúp đỡ của đội ngũ chuyên gia Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tôi đã biết được ý nghĩa của bức tranh. Đó là lòng yêu nước xuyên suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam. Tinh thần ấy được mô tả qua hình tượng vị anh hùng Gióng, người đã đứng lên bảo vệ bờ cõi trước quân xâm lược rồi cưỡi ngựa bay về phía vinh quang vĩnh cửu khi công việc đã hoàn tất. Cùng với kỹ thuật sơn mài sử dụng nguyên liệu thiên nhiên đặc trưng của Việt Nam, bức tranh là tác phẩm hoàn hảo để giới thiệu tại lễ hội năm 2013", chuyên gia người Anh đánh giá.

Những năm 1970, trong căn phòng vỏn vẹn 10 m2 ngổn ngang dụng cụ vẽ và đồ cổ ở 65 phố Nguyễn Thái Học, họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm sống độc thân, miệt mài sáng tác. Đây là khoảng thời gian ông tìm hướng đi mới cho phong cách nghệ thuật của bản thân sau giai đoạn vẽ hiện thực. Khi tên tuổi đã ở trong nhóm tứ trụ "Nghiêm – Liên – Sáng – Phái" (Nguyễn Tư Nghiêm – Dương Bích Liên – Nguyễn Sáng – Bùi Xuân Phái), ông vẫn lựa chọn cách sống lặng lẽ và kín đáo, chỉ giao thiệp với những người thân thiết.

"Ông Nghiêm dành nhiều thời gian trong thời kỳ đỉnh cao sáng tác lủi thủi một mình đến Bảo tàng gần nhà để nghiên cứu, chiêm nghiệm từng tác phẩm cổ đại trưng bày tại đây", nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Hải Yến – một trong những thành viên đầu tiên của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, nhớ lại.

Năm 1972, Viện Mỹ thuật – Mỹ nghệ (tiền thân Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) trưng bày bộ sưu tập Điêu khắc gỗ dân gian đình làng từ thế kỷ 17. Bà Yến nhận định: "Nguyễn Tư Nghiêm đã tìm ra vẻ đẹp từ truyền thống Việt Nam. Cuộc triển lãm năm 1972 đã tạo nên bước ngoặt quan trọng trong các sáng tác của ông". Hàng loạt bức tranh theo chủ đề Gióng, Điệu múa cổ phát triển mạnh mẽ từ các phác thảo trước đó, được ví như những mảnh ghép hoàn hảo trong sự nghiệp của Nguyễn Tư Nghiêm.

"Con đường của Tư Nghiêm là đi từ hiện thực đến trừu tượng, lập thể. Ông đã lựa chọn lĩnh vực khó là trừu tượng hóa đề tài dân tộc", nhà nghiên cứu bình luận. Sau những bức tranh Gióng ban đầu, ông cảm thấy việc phô diễn thân thể như cơ bắp, biểu cảm là điều bình thường. Suốt 25 năm tìm tòi không ngừng nghỉ hình tượng Gióng, Nguyễn Tư Nghiêm dần chuyển sang dùng những đường khối và hoa văn thừa hưởng từ thời Đông Sơn để đạt tới đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác.
Nghệ thuật của Nguyễn Tư Nghiêm được nhận xét có tính bác học, tiếp thu đầy đủ vẻ đẹp truyền thống từ cổ đại đến "uyển nhã sang trọng" của cung đình phong kiến, điêu khắc đình làng dân dã, thô mộc và chuyển thành ngôn ngữ hiện đại. Sinh thời, danh họa từng chia sẻ quan điểm: "Khai thác, đi đến tận cùng truyền thống, sẽ gặp hiện đại". Ông nhìn thấy vốn cổ đã có sẵn các trường phái hiện thực, lập thể, biểu hiện, trừu tượng. Bức tranh Gióng (1990) đã đạt giải nhất Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc lần thứ 14 tổ chức cùng năm và được Bảo tàng tuyển chọn ngay trong sự kiện.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Yến phân tích, bức tranh được tái hiện trong không gian Đông Sơn, mang yếu tố thần thoại và hiện đại song hành.

Những nét vẽ đều được lắp dựng từ hình kỷ hà (các hình, nét cơ bản thẳng, cong, vuông, tròn...) gãy gọn, khúc chiết. Những bước chân ngựa, y phục của nhân vật được khắc họa từ những mô típ tiêu biểu trên trống đồng Đông Sơn gồm vòng tròn tiếp tuyến, hình răng cưa, chữ S gấp khúc.

Theo các nghiên cứu, những chi tiết này có trên hầu hết trống đồng Đông Sơn, là hoa văn đại diện cho nền văn hóa rực rỡ thuộc thời đại kim khí hơn 2.000 năm trước.

Rìu đồng với hoa văn người và động vật cách điệu.
Phần lưỡi rìu trong tranh tượng trưng cho công cụ lao động của người xưa. Chi tiết này được cho là đã có sự gạn lọc, mang dụng ý nói về hoạt động lao động sản xuất, mưu cầu cuộc sống ấm no sau khi chiến tranh qua đi thay vì biểu hiện những vũ khí như dao găm, mũi giáo.

Cùng với đó là các họa tiết tiêu biểu thời Đông Sơn trên miếng hộ tâm (giáp ngực) của chiến binh, hình giao long kết đôi biểu trưng của tín ngưỡng phồn thực, vạn vật sinh sôi nảy nở.

Họa tiết cá sấu (giao long) trên giáp và rìu Đông Sơn trong khoảng thế kỷ 3 - 4 TCN.

(Hộ tâm phiến trang trí hình giao long, phát hiện tại Ninh Bình. Hiện vật (phải) đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.)

Ở bức tranh này, Nguyễn Tư Nghiêm đã phủ đầy cơ thể nhân vật Gióng cả một nền văn hóa Đông Sơn thay vì tập trung mô tả thân hình chàng thanh niên lực lưỡng, lớn nhanh như thổi trước khi ra trận dẹp giặc ngoại xâm.

Trong tất cả tranh Gióng của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, không phải ngẫu nhiên mà nhân vật chính luôn hướng về bên phải. Một phần lý do được cho là mô phỏng hướng quay ngược chiều kim đồng hồ trên tất cả mặt trống đồng Đông Sơn.

Bên cạnh đó, theo các nghiên cứu thị giác, hướng nhìn của nhân vật trong một bức tranh, ảnh hay cảnh quay tạo nên những phản ứng trái chiều trong tâm lý người xem. Đây cũng là một loại "từ vựng" trong ngôn ngữ nghệ thuật. Theo đó, nhân vật quay về bên phải tạo nên những cảm xúc an toàn, bình yên, được chở che... Trong khi hướng ngược lại thường mang đến cảm giác chông chênh, bất trắc. Bạn đọc có thể cảm nhận điều này khi xem hai bức tranh như dưới đây.

Đến nay chưa có một khẳng định chắc chắn nào về bố cục của Gióng. Bản thân họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm khi còn sống cũng không tiết lộ về điều này. Chỉ có lần duy nhất ông tâm sự với nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Yến rằng, "cái bí mật nhất nằm ở kích thước tranh". Họa sĩ muốn cô đọng hình tượng Gióng thành một khối thống nhất khoẻ khoắn, dữ dội với chủ thể chính là cả người và ngựa. Để làm được như vậy, ông đã lựa chọn cách điệu hóa nhân vật bằng các họa tiết cổ đại rồi làm đầy khung hình bằng các mảng trang trí xung quanh.

Một số ý kiến khác cho rằng, bố cục bức tranh cũng xuất hiện bóng dáng của tỷ lệ vàng giống như Rafael và Leonardo da Vinci từng ứng dụng trong những tác phẩm bích họa kinh điển ở Vatican và Italy.

Ứng dụng tỷ lệ vàng cho các mảng, khối của tranh, trong khi đường chéo thể hiện hướng bay lên của chủ thể.

Bức tranh Gióng được tạo nên bởi kỹ thuật, chất liệu sơn mài riêng biệt của Việt Nam. Loại hình này thừa hưởng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn, trong đó quan trọng nhất là nhựa cây sơn ta ở vùng Phú Thọ. Ban đầu, sơn mài chỉ có vài màu cơ bản như đen, đỏ, xanh, nâu cánh gián, vàng (làm từ vàng thếp), trắng (từ bạc, vỏ trứng)... Sơn công nghiệp sau này làm phong phú bảng màu của sơn mài nhưng bị coi là "kém hơn về độ sâu".

Khi thực hiện tác phẩm này, Nguyễn Tư Nghiêm hoàn toàn có điều kiện dùng nhiều màu sắc mới. Tuy nhiên, ông chỉ chọn các tông màu truyền thống để truyền tải những chiêm nghiệm của bản thân. "Trên nền son của tầm vóc truyền thống, Nguyễn Tư Nghiêm đã chắt lọc đến cùng ngôn ngữ lập thể và trừu tượng của phương Tây nhuần nhuyễn đến bất ngờ", bà Yến nhận xét.

Trong lần nói chuyện với đại diện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và GS. TS. Susan Bayly, họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm chia sẻ tác phẩm Gióng nói về một nhân vật còn ít tuổi những đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Ông vẽ nhân vật như một người trưởng thành khi đã giành chiến thắng, với các chi tiết được thần thánh hóa. Điều này cũng giống Việt Nam - một đất nước nhỏ bé nhưng lại có lịch sử dựng nước, giữ nước lâu dài. Thánh Gióng được nói đến nhiều nhưng chỉ là truyền thuyết. Không có tài liệu ghi chép chính xác nên họa sĩ đã khắc họa nhân vật theo nhận thức của chính ông. Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm mong muốn giới trẻ nhìn vào tấm gương Thánh Gióng để có được tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc khi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất lịch sử và anh hùng.

Bức tranh Gióng đã về lại Việt Nam ngày 29/10/2013, sau khi thu hút hơn 2.200 lượt khách tham quan trong 10 ngày trưng bày tại Anh và sự quan tâm của báo chí, truyền thông nước này.

Đến 2017, bức tranh đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia. "Tác phẩm đánh dấu sự cách tân của nghệ thuật sơn mài Việt Nam và là hình mẫu để các thế hệ sau học tập. Bức tranh đã đạt đến tính độc đáo trong tạo hình, kết hợp giữa trang trí dân gian với trường phái lập thể hiện đại, cũng là minh chứng cho khả năng diễn tả phong phú của loại hình sơn mài. Đây là tác phẩm thành công nhất trong loạt tranh Gióng của Nguyễn Tư Nghiêm, đánh dấu phong cách tạo hình riêng biệt của họa sĩ", PGS. TS. Trang Thanh Hiền bình luận trong đợt đề nghị công nhận bảo vật quốc gia năm 2017.

Bức tranh đang được trưng bày tại phòng 16 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, cạnh bên nhiều tác phẩm sơn mài nổi tiếng khác của tác giả như Con nghé, Điệu múa cổ, Nông dân đấu tranh chống thuế, Xuân hồ Gươm.

Bảo tàng mở cửa từ 8h30 đến 17h hàng ngày, trừ ngày Tết.

Kiều Dương - Vnexpress

Address

Ba đình
Ba Đình

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tự hào Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Tự hào Việt Nam:

Share