12/08/2026
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 – MỐC SON CHÓI LỌI TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những sự kiện có ý nghĩa to lớn và sâu sắc nhất. Thắng lợi của cuộc cách mạng đã đập tan ách thống trị của thực dân, phát xít và chế độ phong kiến; đưa Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước; mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Để làm nên thắng lợi vĩ đại ấy, dân tộc ta đã phải trải qua một chặng đường đấu tranh lâu dài, gian khổ, với nhiều sự hy sinh và những bước chuẩn bị kiên trì về đường lối, lực lượng, căn cứ địa cũng như tinh thần cách mạng.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng. Sau nhiều thập kỷ tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp từng bước đặt ách thống trị trên toàn bộ đất nước ta. Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nhân dân ta không chỉ mất quyền độc lập, tự do mà còn phải chịu sự áp bức, bóc lột nặng nề về kinh tế, chính trị và văn hóa.
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhiều phong trào yêu nước đã liên tiếp diễn ra. Đó là các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân; phong trào Cần Vương; khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu; phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh và nhiều cuộc đấu tranh khác. Những phong trào ấy thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, ý chí bất khuất và khát vọng giành lại độc lập của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, do chưa có đường lối phù hợp, chưa tập hợp được sức mạnh rộng lớn của toàn dân và còn thiếu một tổ chức lãnh đạo thống nhất, các phong trào lần lượt bị đàn áp và không đạt được mục tiêu cuối cùng.
Trong bối cảnh đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5 tháng 6 năm 1911. Sau nhiều năm bôn ba qua nhiều quốc gia, nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới và trực tiếp tham gia phong trào công nhân quốc tế, Người đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Đây là bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo phong trào yêu nước. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến, giành độc lập cho dân tộc, đem lại quyền làm chủ cho Nhân dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng trong cả nước phát triển mạnh mẽ. Cao trào cách mạng 1930–1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ – Tĩnh đã chứng minh sức mạnh của công nhân, nông dân và khả năng tổ chức, lãnh đạo của Đảng. Mặc dù bị thực dân Pháp đàn áp hết sức khốc liệt, phong trào đã trở thành cuộc diễn tập đầu tiên, chuẩn bị lực lượng và kinh nghiệm cho Cách mạng Tháng Tám sau này.
Trong những năm 1936–1939, trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, Đảng đã phát động phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình và chống nguy cơ phát xít. Thông qua các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp, phong trào đã thu hút đông đảo các tầng lớp Nhân dân tham gia. Đây được xem là cuộc diễn tập lần thứ hai của cách mạng Việt Nam, góp phần mở rộng lực lượng chính trị quần chúng và nâng cao uy tín của Đảng trong Nhân dân.
Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương tăng cường đàn áp phong trào cách mạng, bắt bớ những người yêu nước, vơ vét tài nguyên và bắt Nhân dân phục vụ chiến tranh. Trước tình hình đó, Đảng đã từng bước chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Tháng 11 năm 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu xác định nhiệm vụ trực tiếp, cấp bách của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc. Chủ trương này tiếp tục được bổ sung, phát triển tại Hội nghị Trung ương lần thứ bảy vào tháng 11 năm 1940 và được hoàn chỉnh tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám vào tháng 5 năm 1941.
Trong thời gian này, nhiều cuộc đấu tranh vũ trang đã nổ ra. Khởi nghĩa Bắc Sơn tháng 9 năm 1940 đã mở đầu cho phong trào đấu tranh vũ trang giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tiếp đó là Khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940 và cuộc binh biến Đô Lương tháng 1 năm 1941. Mặc dù chưa giành được thắng lợi cuối cùng, những cuộc đấu tranh này đã thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu kiên cường của Nhân dân và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa và tổ chức khởi nghĩa.
Sau hơn ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28 tháng 1 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người chọn Pác Bó, tỉnh Cao Bằng làm nơi xây dựng căn cứ và chỉ đạo phong trào. Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám được tổ chức tại Pác Bó. Hội nghị hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược, xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Việt Nam.
Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, được thành lập. Mặt trận Việt Minh có nhiệm vụ đoàn kết mọi tầng lớp Nhân dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo hay xu hướng chính trị, cùng hướng đến mục tiêu chung là đánh đuổi thực dân, phát xít và giành độc lập cho đất nước. Các đoàn thể cứu quốc được thành lập rộng khắp, thu hút công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trí thức và nhiều tầng lớp khác tham gia.
Song song với việc xây dựng lực lượng chính trị, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, tỉnh Cao Bằng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Ngay sau khi thành lập, Đội đã giành thắng lợi tại Phai Khắt và Nà Ngần, tạo tiếng vang lớn, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với lực lượng cách mạng.
Trong khi phong trào cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, tình hình thế giới và Đông Dương diễn biến nhanh chóng. Từ năm 1940, phát xít Nhật tiến vào Đông Dương nhưng vẫn duy trì bộ máy thống trị của thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”, vừa bị thực dân Pháp áp bức, vừa bị phát xít Nhật bóc lột. Chúng bắt Nhân dân nhổ lúa trồng đay, thu mua lương thực với giá rẻ, vơ vét thóc gạo phục vụ chiến tranh. Cùng với thiên tai, chính sách tàn bạo ấy đã dẫn đến nạn đói khủng khiếp cuối năm 1944 và đầu năm 1945, làm hơn hai triệu đồng bào ở miền Bắc chết đói.
Giữa lúc đời sống Nhân dân lâm vào cảnh cùng cực, đêm 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính, lật đổ chính quyền thực dân Pháp và độc chiếm Đông Dương. Trước sự thay đổi lớn của tình hình, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị xác định phát xít Nhật là kẻ thù chính, trước mắt của Nhân dân Đông Dương, đồng thời phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa.
Từ đây, phong trào cách mạng phát triển sôi nổi trên phạm vi cả nước. Các cuộc mít tinh, biểu tình, phá kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói diễn ra ở nhiều địa phương. Khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” đáp ứng đúng nguyện vọng cấp thiết của Nhân dân, vì vậy đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Hoạt động này vừa cứu đói, vừa giáo dục và tập hợp lực lượng cách mạng, làm suy yếu bộ máy thống trị của phát xít Nhật và tay sai.
Tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ được tổ chức, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân, xây dựng các chiến khu và đẩy mạnh việc chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 15 tháng 5 năm 1945, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân chính thức hợp nhất thành Việt Nam Giải phóng quân.
Ngày 4 tháng 6 năm 1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, gồm phần lớn địa bàn sáu tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Tân Trào, thuộc tỉnh Tuyên Quang, được chọn làm trung tâm của Khu giải phóng và trở thành thủ đô lâm thời của cách mạng. Tại đây, một hình thức chính quyền cách mạng bước đầu được xây dựng, các chính sách về kinh tế, văn hóa, giáo dục và đời sống xã hội được thực hiện. Khu giải phóng Việt Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc, nơi chuẩn bị lực lượng trực tiếp cho cuộc Tổng khởi nghĩa.
Mùa hè năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai đi đến hồi kết. Ở châu Âu, phát xít Đức đã đầu hàng Đồng minh vào tháng 5 năm 1945. Tại châu Á, quân đội Nhật liên tiếp thất bại. Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản và tiến công đạo quân Quan Đông. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Quân Nhật tại Đông Dương rơi vào tình trạng hoang mang, chính quyền tay sai tê liệt, trong khi quân Đồng minh chưa kịp tiến vào giải giáp. Một khoảng trống quyền lực xuất hiện, tạo nên thời cơ đặc biệt thuận lợi để Nhân dân Việt Nam vùng lên giành chính quyền.
Nhận thấy thời cơ cách mạng đã chín muồi, từ ngày 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Từ ngày 14 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trước khi quân Đồng minh tiến vào Đông Dương.
Ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945, Quốc dân Đại hội họp tại đình Tân Trào. Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua những chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, quyết định Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng và chọn bài “Tiến quân ca” làm Quốc ca. Đại hội cũng cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, giữ vai trò như một Chính phủ lâm thời.
Trong thời điểm có ý nghĩa quyết định ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên giành độc lập. Người khẳng định giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến và kêu gọi toàn thể đồng bào đem sức mình tự giải phóng cho mình. Lời kêu gọi của Người đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng trên khắp cả nước.
Từ giữa tháng 8 năm 1945, nhiều địa phương đã chủ động nổi dậy giành chính quyền. Ngày 16 tháng 8, một đơn vị Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát từ Tân Trào, tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên. Ngày 18 tháng 8, các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam là những địa phương giành được chính quyền cấp tỉnh sớm nhất.
Tại Hà Nội, ngày 17 tháng 8, chính quyền thân Nhật tổ chức mít tinh tại Nhà hát Lớn nhưng cuộc mít tinh nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình ủng hộ Việt Minh. Cờ đỏ sao vàng xuất hiện, khí thế cách mạng lan rộng khắp thành phố. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, hàng chục vạn người từ nội thành và ngoại thành tập trung tại Quảng trường Nhà hát Lớn, tham gia cuộc mít tinh lớn do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Sau cuộc mít tinh, quần chúng cách mạng chiếm Phủ Khâm sai, Tòa Thị chính, Sở Cảnh sát và nhiều cơ quan quan trọng. Cuộc khởi nghĩa tại Hà Nội giành thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi ngày 19 tháng 8 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo động lực và cổ vũ mạnh mẽ phong trào khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Nhân dân Huế nổi dậy giành chính quyền. Ngày 25 tháng 8, khởi nghĩa thắng lợi tại Sài Gòn và nhiều tỉnh Nam Bộ. Ngày 30 tháng 8, tại Ngọ Môn, Huế, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị và trao ấn, kiếm cho đại diện Chính phủ cách mạng. Sự kiện này đánh dấu sự chấm dứt của chế độ quân chủ tồn tại hàng nghìn năm ở Việt Nam.
Chỉ trong khoảng nửa tháng, từ ngày 14 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi trên phạm vi cả nước. Đây là một cuộc cách mạng diễn ra nhanh chóng, ít đổ máu nhưng đã làm thay đổi căn bản vận mệnh của dân tộc.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình ở Hà Nội, trước hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người khẳng định nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Từ đây, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trước hết đã đập tan ách thống trị gần một thế kỷ của thực dân Pháp, lật đổ sự chiếm đóng của phát xít Nhật và chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến. Nhân dân Việt Nam từ thân phận mất nước, bị áp bức và bóc lột đã trở thành người làm chủ đất nước và tự quyết định tương lai của dân tộc.
Cách mạng Tháng Tám còn mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi ấy khẳng định quyền tồn tại độc lập của dân tộc Việt Nam, đặt nền móng cho những thắng lợi tiếp theo trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc xây dựng đất nước.
Đối với thế giới, Cách mạng Tháng Tám đã góp phần vào thắng lợi chung của nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Thắng lợi của Nhân dân Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc tại các nước thuộc địa, đặc biệt là ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh. Một dân tộc thuộc địa nhỏ bé đã tự mình đứng lên giành chính quyền, khẳng định rằng các dân tộc bị áp bức hoàn toàn có thể giành lại độc lập nếu biết đoàn kết, tổ chức lực lượng và nắm bắt đúng thời cơ.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của nhiều yếu tố. Đó là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; là quá trình chuẩn bị kiên trì trong suốt mười lăm năm từ khi Đảng ra đời; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất của Nhân dân; là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, giữa đấu tranh ở nông thôn với đấu tranh ở thành thị. Đặc biệt, thắng lợi ấy thể hiện khả năng nhận định đúng tình hình và kịp thời nắm bắt thời cơ lịch sử.
Cách mạng Tháng Tám để lại nhiều bài học có giá trị lâu dài. Trước hết là bài học luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân lên trên hết. Đó còn là bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc và tôn giáo; bài học về sự chủ động chuẩn bị lực lượng; bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; và bài học về tinh thần tự lực, tự cường, tự mình quyết định vận mệnh của mình.
Hơn tám mươi năm đã trôi qua, đất nước Việt Nam đã có nhiều đổi thay to lớn. Từ một đất nước thuộc địa nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam đã vươn lên trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất, ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng với thế giới. Đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng cao; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định. Những thành tựu ấy càng giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị của độc lập, tự do và ý nghĩa của thắng lợi Cách mạng Tháng Tám.
Đối với thế hệ hôm nay, nhất là thế hệ trẻ, kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám không chỉ là dịp ôn lại một sự kiện lịch sử. Đây còn là cơ hội để mỗi người nhìn lại trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước. Chúng ta được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, được học tập, lao động và theo đuổi ước mơ. Những điều tưởng như bình thường ấy là thành quả được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, xương máu và sự hy sinh của các thế hệ cha ông.
Vì vậy, thế hệ trẻ cần chủ động tìm hiểu lịch sử dân tộc một cách nghiêm túc, đầy đủ và chính xác. Hiểu biết lịch sử giúp mỗi người nhận thức rõ nguồn gốc của nền độc lập, biết trân trọng những giá trị đang có và không thờ ơ trước các vấn đề của đất nước. Lòng yêu nước chân chính phải được xây dựng trên nền tảng của tri thức, sự thật lịch sử và trách nhiệm đối với cộng đồng.
Bên cạnh việc học tập lịch sử, thế hệ trẻ phải không ngừng rèn luyện đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, làm chủ khoa học và công nghệ. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, tri thức, kỹ năng và khả năng sáng tạo trở thành nguồn lực quan trọng để xây dựng đất nước. Mỗi học sinh, sinh viên cần học tập nghiêm túc; mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động cần tận tụy với nhiệm vụ, chủ động đổi mới, nâng cao chất lượng công việc và phục vụ Nhân dân.
Thế hệ hôm nay cũng cần tiếp tục vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc – một trong những nguồn sức mạnh quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Mỗi người cần biết tôn trọng sự khác biệt, sống nhân ái, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau; không để những thông tin sai lệch, định kiến hay lợi ích cá nhân làm ảnh hưởng đến tình cảm cộng đồng. Đặc biệt, khi sử dụng mạng xã hội, cần thận trọng kiểm chứng thông tin, không phát tán nội dung xuyên tạc lịch sử, kích động chia rẽ hoặc gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Tiếp nối tinh thần Cách mạng Tháng Tám còn được thể hiện qua những hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày: tuân thủ pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự; bảo vệ môi trường; xây dựng nếp sống văn minh; tích cực tham gia hoạt động cộng đồng; quan tâm, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn; đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của Tổ quốc. Dù ở bất kỳ vị trí nào, mỗi người đều có thể đóng góp cho đất nước bằng tinh thần trách nhiệm và những việc làm thiết thực.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Giá trị lớn nhất mà cuộc cách mạng để lại không chỉ là một chính quyền được giành về tay Nhân dân, mà còn là niềm tin rằng một dân tộc dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn vẫn có thể làm nên những điều vĩ đại khi biết đoàn kết, có đường lối đúng đắn và dám đứng lên làm chủ vận mệnh của mình.
Hưởng ứng kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công, mỗi chúng ta cần biến niềm tự hào thành ý thức trách nhiệm, biến lòng biết ơn thành hành động và biến những bài học lịch sử thành động lực để vươn lên. Tiếp bước các thế hệ cha ông, thế hệ hôm nay nguyện không ngừng học tập, lao động, sáng tạo và cống hiến, góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh và cùng cả nước hướng tới tương lai phồn vinh, hạnh phúc.
(Ảnh: Mặt trận Việt Minh tổ chức mít-tinh với sự tham gia của hàng vạn quần chúng nhân dân tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội, chiều 17/8/1945)