02/06/2025
Từ thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường đời đã nhọc chuyện hơn thua
Trong tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa.
Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng.
Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi mỉm miệng cười.
Tôi nhớ làm sao những buổi chiều
Lời kinh giải thoát vọng cao siêu
Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu.
Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi thôn xóm
Xây dựng tương lai xứ sở mình.
Tối đến dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân hiền mọi mái tranh.
Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lễ
Mười bốn ba mươi mỗi tối nào.
Biết đến bao giờ trở lại quê
Phân vân lòng gửi nhớ nhung về
Tang thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê.
Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
Qua vài ngàn năm, mái chùa đã là hình ảnh thân quen, trở thành một hình ảnh tiêu biểu của làng quê Việt, đi vào tiềm thức của cả một dân tộc: "Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/ Sư cụ nằm chung với khói mây" (Nguyễn Khuyến) - "Bầu trời cảnh Bụt/ Thú Hương sơn ao ước bấy lâu nay/ Thoảng bên tai một tiếng chày kình/ Khách tang hải giật mình trong giấc mộng" (Chu Mạnh Trinh)...
Chùa của làng quê Việt Nam từ lâu đã trở thành biểu tượng của cái đẹp dân dã, hiền hòa, đôn hậu, bao dung, xuất phát từ bản chất từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, yêu hoà bình, tôn trọng sự sống muôn loài, và đã trở thành một bộ phận quan trọng trong di sản văn hoá Việt Nam. Trong một cuốn sách về Thiên nhiên VN, GS. địa lý Lê Bá Thảo đã viết những dòng như thơ: “Từ thuở nhỏ, ai mà chẳng được sống trong lời ru của bà, của mẹ, mà âm điệu du dương của chúng mang bóng dáng của đất đai làng mạc đã tạo nền cho tình yêu quê hương đất nước thắm thiết lắng sâu vào tâm hồn”[1].
Trong lời ru đó chắc chắn có bóng dáng của những mái chùa quê, và khung cảnh làng mạc nói trên cũng là môi trường quen thuộc, thân thiết của mọi ngôi chùa Việt, như Thiền sư Pháp Loa (1284-1330) từng nói rõ trong một bài giảng Thiền đạo yếu học: “Cảnh chùa có 4 điều: một là Nước, hai là Lửa, ba là Lương thực, bốn là Rau… Cảnh không gần nhân gian mà cũng không xa nhân gian, vì gần thì ồn ào, mà xa thì không ai giúp đỡ cho”[2]. Chùa thường gắn với những bức tranh quê thơ mộng, với sinh hoạt văn hóa dân gian như qua câu hát miền Trung: “Cu cu mà đậu nóc chùa/ Cho anh cưới chịu đến mùa trả khoai”; cũng có khi lại là biểu tượng cho linh khí non sông: Trấn áp Đông Tây củng đế kỳ/ Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy/ Sơn hà bất đông kinh thiên trụ/ Kiến cổ nan ma lập địa chùy (Trấn áp Đông Tây giữ vững kinh kỳ nhà vua. Đó là ngọn tháp sừng sững cao trội hẳn lên. Như chiếc cột chống trời đứng đó làm cho sơn hà yên ổn. Như mũi dùi dựng trên mặt đất, từ xưa chẳng hề mòn - Phạm Sư Mạnh, Vịnh Tháp Báo Thiên).
Có những câu cửa miệng đáng yêu trong dân gian như: “Chùa làng, phong cảnh Bụt” - “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”… Nhiều chợ làng thường họp ở ngay cửa chùa, dân gọi là “chợ Chùa” (thư tịch ghi là “Tam Bảo thị”). Ngoài các lễ chùa đơn giản dâng “Lục cúng” gắn với cuộc đời Đức Phật, là các Hội chùa - thực chất là Hội Xuân, Hội Thu với các trò chơi dân gian, hoạt cảnh văn hóa dân gian giàu tính nghệ thuật, và nhiều khi Hội Chùa cũng chính là Hội giao duyên của nam thanh nữ tú: “Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ/ Trai chưa vợ nhớ Hội chùa Thầy” (tháng ba), “Dù cho cha đánh mẹ cheo/ thì em không bỏ Hội Keo hôm rằm” (tháng 9)…
Chùa là nơi nuôi dưỡng niềm tin vào giáo lý của Đức Phật bằng xương bằng thịt, từ đó rút ra những giá trị đạo đức cao cả, rồi chan hòa trong cuộc sống để dần trở thành truyền thống dân tộc. Chính tâm linh này đã soi rọi cho cách cư xử, nếp nghĩ, phương châm hành động của ông cha chúng ta trong mấy ngàn năm, như: Chị ngã em nâng. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ. Thương người như thể thương thân. Chín bỏ làm mười. Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài. Người ta là Hoa đất. Làm lành lánh dữ. Ở hiền gặp lành. Chùa Việt cũng là nơi thể hiện lòng Hiếu thảo, nguyện vọng báo đáp công ơn sinh thành, nơi Báo tứ trọng ân, xá tội vong nhân... Ngôi chùa, qua hàng ngàn năm đã là biểu tượng một cách tự nhiên cho tâm linh đó của dân tộc.
Chùa Việt có vị trí quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng - dù là tín đồ hay người không theo đạo Phật cũng có thể đến chùa vãn cảnh, nghe giảng kinh hay tham gia các nghi lễ Phật giáo. Mái chùa vốn là nơi chu cấp cô nhi, giúp người nghèo khó, chữa bệnh cứu người bằng thuốc Nam, là nơi cho người hiếm muộn cầu tự, nơi nương náu khi ai đó gặp hoạn nạn...
Mái chùa còn là bối cảnh nảy nở bao mối tình đẹp còn truyền tụng cho tới ngày nay, như chuyện Từ Thức gặp Tiên, chuyện Vua Lý Thánh Tông đi thăm Chùa Dâu mà gặp cô thôn nữ sau thành hoàng hậu, v.v.
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Phật giáo Chu Quang Trứ có nhận xét khái quát: “Một làng quê có các công trình kiến trúc Đình - Đền - Chùa là một làng có bề dày lịch sử và có chiều sâu văn hóa. Làng quê ấy là gương mặt Việt Nam, có cái hạn hẹp của nền kinh tế tiểu nông cá thể lạc hậu, nhưng lại có cái đẹp duyên dáng và đôn hậu cả ở cảnh và người. Trong các dạng công trình công cộng trên, chùa là công trình có sớm nhất, phổ biến nhất, gắn bó nhất với cộng đồng dân làng và dân tộc do đó cũng có sức sống nhất, tồn tại lâu dài nhất và đang tham gia vào đời sống xã hội đương đại”[3].
Lịch sử đã ghi nhận: Phật giáo là một tôn giáo lớn, yêu nước, luôn đồng hành cùng dân tộc với tư cách "Hộ quốc, An dân". Triều đại nào trong thời phong kiến cũng những thiền sư là nhà văn hoá, chính trị, quân sự, ngoại giao xuất sắc. Trong các cuộc kháng chiến cứu nước, mái chùa là nơi che chở nuôi dưỡng bao người chiến sĩ, cán bộ cách mạng; bản thân các tăng, ni, Phật tử cũng tham gia tích cực trong các đoàn thể cứu quốc. Qua bao nhiêu cuộc hưng phế, tấm lòng của chùa Việt vẫn hằng trụ, bất biến, đó là cái Tâm lành và Thủy chung với đất nước. Chùa có thể bị phá tan, nhưng chùa không bao giờ bị khuất phục bởi bất cứ thế lực cường quyền, xâm lược nào. Hơn chục năm trước, trong bộ phim truyện truyền hình ba tập “Xuôi ngược đường trần”[4], chúng tôi đã dựng lên hình tượng nhà sư yêu nước Nam Bộ thời chiến tranh… Thông qua lịch sử đau thương của những thời kỳ mất nước, và nhìn vào những xung đột tôn giáo - sắc tộc dữ dằn trên thế giới hôm nay, chúng ta càng nhận thấy cái giá trị sức mạnh tinh thần của một Dân tộc, sự cố kết của tình Đồng bào dựa trên nền tảng Văn hóa và Tâm linh, và những điều đó đã đựơc kết tinh khá rõ trong chùa Việt.