TRI THỨC NGÀY NAY

  • Home
  • TRI THỨC NGÀY NAY

TRI THỨC NGÀY NAY 1. KHÔNG văn hóa "mày/tao".
2. KHÔNG "spam" hình ảnh.
3. KHÔNG dùng từ thô tục.
4. KHÔNG kỳ thị vùng miền.
5. KHÔNG quảng cáo mua bán. Admin.

Hãy lịch sự và hòa nhã - các Admins sẽ khóa (block) lập tức những ai vi phạm mà không cần phải báo trước.

Chắc là nhiều bạn không biết rằng tại Hàn Quốc có một ngôi làng Việt Nam, mang tên là Trung Hiếu Đường, thờ vua Lý Thái ...
25/06/2026

Chắc là nhiều bạn không biết rằng tại Hàn Quốc có một ngôi làng Việt Nam, mang tên là Trung Hiếu Đường, thờ vua Lý Thái Tổ và hoàng tử Lý Long Tường. Vừa qua, kênh truyền hình Yonhap News TV thuộc Thông tấn Hàn Quốc Yonhap đã đưa tin về ngôi làng Việt Nam này.

Hoàng tử Lý Long Tường bị thất sủng ở Việt Nam, phải đi lưu vong tại bán đảo Triều Tiên. Nhưng chính vì lịch sử đặc biệt như vậy đã khiến ông trở thành một trong những danh tướng vĩ đại nhất lịch sử Hàn Quốc và cả Triều Tiên. Khi chính ông đã lãnh đạo quân dân bán đảo Triều Tiên đánh tan quân Mông Cổ tới hai lần, trở thành thiên sử hào hùng vào loại bậc nhất lịch sử bán đảo Triền Tiên.

Trận chiến năm 1232, Lý Long Tường đã hơn 51 tuổi, cưỡi bạch mã, chỉ huy quân dân Triều Tiên đánh bại nhánh quân của Mông Cổ tại Hwang-hae. Năm 1253, khi ấy Lý Long Tường đã ở độ tuổi gần 73, lãnh đạo hơn 5000 quân Cao Ly phòng thủ hơn 5 tháng liền trên núi Jin San, bẻ gãy toàn bộ ý chí xâm lược của Mông Cổ, khiến Mông Cổ phải rút.

Không rõ năm mất của hoàng tử Lý Long Tường, nhưng nhiều nguồn tin cho biết quân đội Mông Cổ phải đợi khi ông mất mới tiến quân và buộc Cao Ly phải đầu hàng.

Nhiều đời hậu duệ của hoàng tử Long Tường cũng đã nhiều lần lãnh đạo, chiến đấu phòng thủ lãnh thổ Triều Tiên trước quân đội Trung Quốc, Nhật Bản. Báo chí Hàn Quốc từng ca ngợi hoàng tử Lý Long Tường rằng ông đã kế thừa những tinh hoa chống giặc ngoại xâm của người Việt Nam hồi xưa rồi trở thành một danh tướng vĩ đại của lịch sử Hàn Quốc.

Trung Hiếu Đường không chỉ là một ngôi điện thờ, mà còn là biểu tượng cho hành trình từ một hoàng tử lưu vong, có một hành trình vô định trở thành người anh hùng trên đất khách, được cả Hàn Quốc và Triều Tiên thờ phụng, đặc biệt là tại Hàn Quốc.




Tôi dịch từ phóng sự của Yonhap nên tôi ghi là hoàng tử Lý Long Tường bị thất sủng.

25/06/2026

Đại tá Đại tá công an Nguyễn Văn Sáu say xỉn gây TNGT làm chêt 1 người, bị thương nặng 2 người, hư hỏng 5 ô tô, 3 xe máy.

Vụ việc xảy ra gần 3 tháng, mọi thứ vẫn tuyệt đối im lặng.

PHÁP LUẬT ở đâu, cho ai?


.

VỀ “BẢY CHỮ, TÁM NGHỀ” TRONG TRUYỆN KIỀUPhạm Bá ThủyTrong Truyện Kiều, sau khi dùng mưu hèn kế bẩn lừa được Thúy Kiều để...
25/06/2026

VỀ “BẢY CHỮ, TÁM NGHỀ” TRONG TRUYỆN KIỀU
Phạm Bá Thủy

Trong Truyện Kiều, sau khi dùng mưu hèn kế bẩn lừa được Thúy Kiều để ép nàng phải làm gái lầu xanh, Tú Bà liền cấp tốc “mở khóa huấn luyện” - truyền đạt lại cho Kiều những “ngón nghề” cơ bản của một “gái ngành” chuyên nghiệp. Nếu trong nguyên bản “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân, chuyện này được trần thuật bằng một đoạn văn tầm thường thô tục thì qua ngòi bút của đại thi hào nguyễn Du, tình tiết này được thể hiện rất tài tình, lột tả hiện thực trần trụi lụa lầy cùng với tâm trạng đắng cay chua xót của nàng Kiều…

Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong,
Tú bà ghé lại thong d**g dặn dò:
Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều.
Nàng rằng: Mưa gió dập dìu,
Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi!
Mụ rằng: Ai cũng như ai,
Người ta ai mất tiền hoài đến đây?
Ở trong còn lắm điều hay,
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.
Này con thuộc lấy nằm lòng,
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề.
Chơi cho liễu chán, hoa chê,
Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời.
Khi khóe hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa.
Đều là nghề nghiệp trong nhà,
Đủ ngần ấy nết, mới là người soi.

Dù xót xa thương cảm cho thân phận nàng Kiều, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu xem “bảy chữ, tám nghề” thực chất là những gì trong hiện thực đời sống lầu xanh.

Trước hết, nói về “vành ngoài”. Đó là những gì cần thể hiện ra bên ngoài trước mặt khách, thông qua ngôn ngữ (nói, hát, ngâm thơ), hành vi cử chỉ, bộc lộ cảm xúc (khóc, cười, hờn giận…). Bảy chữ của “vành ngoài” là: 1. khấp (khóc với khách), 2. tiễn (cùng khách thề bồi, cắt tóc trao nhau làm tin), 3. thích (thích tên khách vào cánh tay như để ghi nhớ lâu dài), 4. thiêu (đốt hương để thề nguyền), 5. giá (hẹn hò lấy nhau), 6. tẩu (vờ rủ khách đi trốn), 7. tử (giả vờ đòi chết khiến cho khách thương xót, luyến tiếc). Cụ thể có thể triển khai như sau:

Khốc: Dùng nước mắt để làm động lòng thương cảm của khách làng chơi. Phải khóc lóc như thật để chứng tỏ mình thành tâm, thật ý. Trong sách “Kim Vân Kiều truyện”, Tú bà đã dạy Kiều dùng nước gừng sống tẩm vào khăn tay để lau mắt, nước mắt sẽ không khô mà luôn tuôn ra như suối.
Tiễn: Rủ khách cùng mình mỗi người cắt một mớ tóc, trộn lẫn vào nhau (kết tóc) rồi chia đôi, mỗi người giữ một nửa làm tin, biểu tỏ thủy chung bền chặt, khách tưởng mình chân thành mà không nỡ bỏ.
Thích: Lấy cây trâm chích vào cổ tay hay trên bắp đùi mấy chữ “Chồng yêu…” (kèm tên của khách), khách thấy vậy càng thêm yêu quý, tin tưởng ta.
Thiêu: Đốt hương hơ vào sáu huyệt của chàng và nàng, vừa hơ vừa thề thốt.
Giá: Sau khi điều tra biết khách là kẻ giàu có thì thủ thỉ, rủ rê, bàn chuyện cưới nhau. Nếu khách muốn cưới thì phải bỏ ra một số tiền lớn để chuộc mình ra, còn nếu không muốn cưới thì cũng phải “xùy” tiền ra để chạy thoát thân.
Tẩu: Nếu thấy dan díu đã lâu, khách hết tiền, muốn chuộc không có tiền để chuộc mà muốn chơi cũng không còn tiền chơi tiếp thì cần tống khứ khách đi cho rảnh: bằng cách giả vờ rủ khách đi trốn, hẹn giờ hẹn chỗ nhưng không đến, đánh tiếng cho người đi bắt kẻ bỏ trốn, khách buộc phải… một đi không trở lại.
Tử: Thề thốt cho khách tin là mình yêu họ, nếu không tin thì xin chết ngay tại chỗ, ngay trước mắt chàng. Khách sợ xảy án mạng, phải dâng thật nhiều tiền bạc để xoa dịu mình, hoặc phải bỏ mà đi biệt.

Tám nghề thuộc “vành trong” gồm những động tác, tư thế tạo khoái cảm nhục dục cho khách làng chơi. Theo một số nguồn thì đó là 8 tư thế cơ bản: chính thường vị (thông thường, truyền thống, nam trên nữ dưới), thân triển vị (tì đè toàn thân), cao yêu vị (hông nhấc lên cao), khuất khúc vị (co gập đầu gối), nữ thượng vị (nữ trên nam dưới), phản vị (đổi trước ra sau), kỵ thừa vị (cưỡi ngựa) và ngọa chiếu vị (ngồi lên đùi nhau). Từ 8 tư thế cơ bản này, dân “ngành” có thể phát triển thành những biến thế sau:
Tự trù mâu, Thân khiển quyển, Bạo tự ngư, Kỳ lân giác, Toản mặc cẩm, Long uyển chuyển, Ngư tỉ mục, Yến đồng tâm, Phỉ thuý giao, Uyên ương hợp, Không phiên diệp, Bối phi cưu, hoàng ngạc túc, Mã dao đề, Bạch hổ thắng, Côn kê lâm trường, Miêu thử đồng huyệt. Vân vân.

Nhưng cũng có những ý kiến (được đồng thuận cao) giải thích “vành trong 8 nghề” của Tú Bà là các tư thế giao hợp như sau:
1) Kích cổ thôi hoa (đánh trống giục hoa) - dành cho khách bị chứng chậm lên (lấy từ điển tích Võ Tắc Thiên mỗi độ xuân về lại sai quân lính đánh trống ầm ĩ trong vườn thượng uyển để thúc cho hoa mau nở);
2) Kim liên song tỏa (sen vàng khóa chặt hai vế) - dành cho khách to béo;
3) Đại xiển kỳ cổ (mở toang cờ trống) - dành cho khách thiếu kiên nhẫn;
4) Mạn đả khinh xao (chậm đánh khẽ rung) - dành cho khách yếu sinh lý;
5) Khẩn thuyên tam trật (ôm ba chân thành 1 bó) - dành cho khách thiếu kinh nghiệm;
6) Tả chi hữu trì (dùng tay trái kéo phía bên phải) - dành cho khách sành sõi;
7) Tỏa tâm truy hồn (kiên trì chiều ý thích của khách) - dành cho khách si tình;
8) Nhiếp thần nhiệm tỏa (nắm lấy và phong tỏa thần hồn) - hớp hồn khách dai sức.

Thật đáng thương cho Kiều. Sau khi được Tú bà “truyền nghề”, nàng đã vô cùng đắng cay chua xót:

Gót đầu vâng dạy mấy lời,
Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng.
Những nghe nói, đã thẹn thùng,
Nước đời lắm nỗi lạ lùng, khắt khe!
Xót mình cửa các, buồng khuê,
Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay!

NB PHẠM BÁ THỦY

Ảnh:
Tác phẩm “Tú Bà ghé lại thong d**g dặn dò” của danh họa Tô Ngọc Vân, 1942.

ĐỐT SÁCH LÀ HOẢ TÁNG CẢ LINH HỒN DÂN TỘC…Song Thao Hâu như toàn thể nhân loại văn minh coi việc đốt sách vở là một hành ...
23/06/2026

ĐỐT SÁCH LÀ HOẢ TÁNG CẢ LINH HỒN DÂN TỘC…
Song Thao

Hâu như toàn thể nhân loại văn minh coi việc đốt sách vở là một hành động man rợ. Vậy mà cuộc phần thư ác ôn này được cả hệ thống tuyên truyền của nhà nước nhảy xổ vào đánh phèng la cổ võ. Báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 25/5/1975 tường thuật sự việc: “Ngày 23/5/1975, trên nhiều đường phố Sài Gòn, “khí thế ra quân” của chiến dịch vô cùng sôi nổi: “Đoàn thanh niên nam nữ đi qua các đường phố và hô to nhiều khẩu hiệu đả đảo văn hóa ngoại lai đồi trụy mất gốc phản động. Đi đầu là xe phóng thanh với một biểu ngữ dài có ghi: ‘Đội thanh niên sinh viên học sinh xung kích bài trừ văn hoá dâm ô phản động’. Theo sau là sinh viên, học sinh sắp hàng bảy, hàng tám xuất phát từ trụ sở của lực lượng thanh niên tự vệ thành phố, số 4 Duy Tân. Đoàn diễn hành kéo dài có đến hàng cây số đường, tất cả mọi người đều có một tấm biểu ngữ trên tay..Ngay sau cuộc tuần hành trên đường phố của hàng chục ngàn thanh niên vệ binh, đồng bào và các tiệm sách đã đem nộp cho đội Quận 7 một số lượng sách báo đồi trụy phản động, tất cả là mười ba xe ba gác. Ngoài ra các hàng sách bày bán trên hai lề đường Lê Lợi, Công Lý cũng tự nguyện dọn sạch và đem nộp. Trên đường Hai Bà Trưng cũng có ba nhà sách tự động đem nộp trên hai mươi cuốn. Đặc biệt, cùng ngày này, 22/5/1975, nhà sách Phúc Bài, 186 Nguyễn Thiện Thuật, Sài Gòn đã tự nguyện đem nộp cho Hội Bài trừ Văn hoá đồi trụy phản động bốn ngàn cuốn sách các loại”.

Cũng trên báo Sài Gòn Giải Phóng, số ra ngày 24/10/1976, nhà báo nằm vùng Cung Văn đã hô hào:

Sách báo nọ, đừng mong ngóc dậy
Vì nhân dân, sẵn gậy cầm tay
Trừ căn, tuyệt nọc bọn nầy
Đánh cho tận gốc, đánh quay mòng mòng.

Theo tài liệu của nhà văn Trần Hoài Thư, chuyện đốt sách dưới mắt người ngoại quốc được đề cập trong cuốn “Nhật Ký Saigon 1975” của ông Walter Skrobanek, Giám Đốc một tổ chức từ thiện, ghi lại cũng vào ngày 23/5/1975: “Sáng nay người nước ngoài thêm một lần nữa không được phép đi vào trung tâm thành phố. Những người da trắng muốn làm điều đó bằng ô tô hay đi bộ đều bị đuổi trở ra mà không có một lời giải thích…Siriporn cũng hỏi lý do ngăn cấm nội thành, đặc biệt là đường Tự Do, đối với người nước ngoài. Nhún vai. Vào buổi tối, có hai phiên bản được lan truyền đi trong trung tâm, tại sao lại ngăn cấm: đốt sách phản động hay là một cuộc gặp gỡ nhiều căng thẳng giữa đại diện của hai phái Công giáo…Các sinh viên cách mạng đả phá tín ngưỡng cũng đã gõ cửa nhà Ariel, để thu thập văn học phản động và khiêu dâm. Chị của Ariel không cho họ vào nhà, mà chỉ giải thích rằng bà không biết đọc. Theo tường thuật của nhân viên chúng tôi thì các tác phẩm văn học Việt Trung như “Tam Quốc Chí” cũng thuộc vào hàng văn hóa đồi trụy như tạp chí tin tức Mỹ “Time”. Giá như các sinh viên đó biết rằng ví dụ như Kim Vân Kiều đang phục sinh lại ở Bắc Việt Nam và được diễn giải như là một phê bình văn học của phong trào chống phong kiến. Người ta nói rằng vào ngày 31 tháng Năm sẽ có một cuộc đốt sách lớn”.

Học giả Nguyễn Hiến Lê, người có nhiều sách đã xuất bản ở miền Nam, kể lại: “Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt…Sở Thông tin Văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Lần đó sách ở Sài gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao. Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quí, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho Sở Thông tin Văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách. Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết”.

Dân Sài Gòn sức mấy mà “hủy hết”. Họ tìm mọi cách cứu sách. Tôi lúc đó đau lòng đứng nhìn tủ sách tôi đã dầy công thu thập từ những ngày còn là học sinh trung học. Cũng cả ngàn cuốn chứ ít ỏi chi. Tuy không được bằng những tủ sách danh tiếng như của thầy Vương Hồng Sển và các nhà văn hóa khác nhưng cũng là máu thịt của mình. Sau khi đánh liều mang một số giấu trên trần nhà, số còn lại mang ra nhúm bếp hết. Dù sao sách cũng làm chín được nồi cơm! Nhà tôi lúc đó ở trong một con hẻm nên các “anh hùng băng đỏ” coi bộ cũng ngại xông pha. Họ vào những nhà mặt tiền cho mau chóng đạt được chỉ tiêu. Nhiều người mang sách báo ra bỏ bên vệ đường hoặc trong bụi cây khuất lấp để dân chúng ai muốn lượm cũng được. Dù sao cũng là một cách cứu sách, như người mẹ nghèo hoặc bị tình phụ bỏ trẻ sơ sanh ngoài đường để có đường sống cho con thơ.

Nhà văn Ngọc, một người trẻ còn theo bậc tiểu học vào năm 1975, là một người rất thích đọc sách kể lại trường hợp cứu sách của gia đình cô: “Lớn lên vào thời điểm chiến dịch kiểm kê văn hóa, tôi đáng lẽ cũng chịu chung cảnh bưng bít kiến thức như nhiều trẻ em Việt Nam hồi ấy nhưng may mắn được ở vùng Tân Quy có làng thương phế binh và cư xá cho công chức, sĩ quan, đa số người dân cùng chung hoàn cảnh nên đùm bọc thương yêu nhau, cán bộ phường xã cũng dĩ hoà vi quý. Đội kiểm kê gồm nhiều học trò cũ của má tôi nên tuy biết nhà tôi nổi tiếng có tủ sách lớn nhất vùng đã làm ngơ vì tiếc, chỉ kê vài cuốn giáo khoa cũ mà không tịch thu. Hàng xóm và các thầy cô giáo thấy vậy chở thêm sách lại cho tị nạn nhà tôi. Má tôi cẩn tắc vô ưu nên dù được bảo đảm vẫn đóng khóa sách cẩn thận. Nhà tôi có một tủ sắt loại locker cho cầu thủ trong sân vận động, cao tới nóc nhà. Má tôi tống hết sách báo vào đó, từ tạp chí Văn, Bách Khoa, sách Trung Hoa xưa, tiền chiến, Tự Lực Văn Đoàn, cho đến các tác giả bị liệt vào hạng phản động Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Thụy Long, Mai Thảo, Chu Tử, Duyên Anh, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh, Vũ Hoàng Chương, Nhất Tuấn, Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Phạm Công Thiện, Túy Hồng, Nhã Ca, Thụy Vũ … Một cô giáo còn chở lại cả tủ Quỳnh Dao. Má tôi khóa tủ sắt, dặn chị em tôi không được lấy sách ra đọc rồi bỏ lung tung lỡ có ai thấy, ai hỏi thì nói khóa tủ hư lâu rồi không mở được. Dĩ nhiên chị em tôi tránh sao khỏi tò mò, má tôi đi dạy là mở tủ lôi sách ra đọc ngấu nghiến, canh giờ má tôi sắp về thì gom sách cất khóa lại. Riêng bán nguyệt san Thời Nay, do số lượng quá nhiều (mỗi tháng hai số trong mười lăm năm) và cũng là tờ tạp chí yêu thích nhất, má tôi dành riêng một chỗ rất đặc biệt và an toàn. Dân miền Nam xưa chắc ai cũng biết cái garde-manger, người Bắc gọi là chạn thức ăn, phần trên có hai ngăn, hai cánh cửa tủ, giữa là ngăn trống để chai hũ, phần dưới không có ngăn nên rất rộng, chắc dành cho những bao hũ khổ lớn, có cửa đóng lại, là chỗ trú ẩn của bộ Thời Nay gia đình tôi. Đội kiểm kê có vào chắc cũng chẳng nghĩ tới xét lục ngăn thường đựng nước mắm, dưa cải v.v…này”.

Sức bật của người Sài Gòn vậy mà được việc. Chỉ khoảng hơn một tháng sau, sách cũ sống lại trên vỉa hè, nằm trên những tấm ni-lông của những con người không còn cách mưu sinh nào khác. Họ bán rất rẻ. Khách hàng gồm cả những bộ đội từ miền Bắc. Văn hóa “đồi trụy” rất được những con người xã hội chủ nghĩa mến mộ. Một trong những người ngồi bán sách trên lề đường là ông Khai Trí. Trong kho nhà sách và nhà xuất bản của ông vào thời điểm Sài Gòn sụp đổ chất đầy sách. Một phần bị dân chúng vào hôi của mang đi, một phần lớn bị tịch thu mang đi đốt. Theo nhà văn Nhật Tiến thì sau khi mất hàng triệu cuốn sách trong kho, ông Khai Trí đã đầu quân vào hàng ngũ bán sách trên lề đường. Ông bày bán ít cuốn truyện thiếu nhi do chính ông xuất bản!

Dân Sài Gòn coi sách như con đẻ, họ xúm vào cứu sách. Mỗi người yêu sách có cách cứu sách riêng. Nhưng tôi nghĩ không có người yêu sách nào hào hùng như nhân vật trong truyện ngắn “Để Tang Cho Sách” của nhà văn Khuất Đẩu. Ông mê sách, nhất là những sách quý. “Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một món tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thỏa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy chỉ vàng, mà còn ốm một trận thừa sống thiếu chết. Cuốn sách cũ đến nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nỉ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm. Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo b**g sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục”.

Đó là sách cổ. Với sách mới ông mua mỗi thứ hai cuốn, một cuốn để đọc và cho mượn, một cuốn để cất trong tủ. Ông muốn cuốn sách cất giữ này trinh nguyên, còn giữ được lề. Không biết có ai còn nhớ được những cuốn sách in thời xưa. Lề sách không bị cắt, trang này còn dính với trang kia. Không biết vì muốn phòng ngừa nạn đọc lén sách hay vì lý do nào khác. Muốn đọc phải dùng dao dọc những trang dính ấy ra. Dao dùng thường phải thật sắc để trang giấy không bị nham nhúa. Giữ sách đã vậy, đọc sách, với ông, là một…nghi lễ. “Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn mình”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà còn sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ý nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu. Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cộng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của mình được dọc ngang trên biển học mông mênh”.

Tháng 5 năm ấy, sách của ông cũng bị bức tử như mọi sách khác. Ông suy nghĩ, không phải để cứu sách mà làm sao để cho sách có một cái chết xứng đáng với lòng tin yêu và kính trọng của ông. Sau nhiều đêm mất ngủ, ông nghĩ ra cách chọn cho sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách. “Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục. Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa rì rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các võ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng. Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đã bắn vọt lên đầu ngọn tháp. Đã nghe mùi mực và mùi giấy. Đã nghe tiếng vặn mình của các bìa sách. Đã nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh. Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn. Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy. Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược. Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là vì khói cay xè”.

Sách do ông rứt ruột tự tay châm lửa đốt thành những đống tro tàn nằm im như những tử thi. Với ông, đám tro này vẫn là sách. Ông đặt làm những chiếc hộp để đựng đám tro này. Tất cả tên những cuốn sách bị đốt đều được viết thành những tấm bia, xếp đều trong chiếc tủ giờ đã vắng sách. Tủ sách đã biến thành một nghĩa trang. Ông chít khăn trắng, lên nhang đèn, cung kính khấn vái, miệng bật ra tiếng khóc lẩm nhẩm những tiếng: ta là kẻ có tội. Chắc là cái tội không giữ được sách. Từ đó ông ăn ít, ngủ ít. Ông thường đem những tấm bia xuống ngắm hàng giờ như đang đọc sách. Mỗi tấm bia gợi nhớ tới màu bìa, co chữ, tranh vẽ và cả nội dung sách mà chỉ có ông mới nhớ được. Rồi ông không ăn, cũng không ngủ, người khô kiệt tái xám.

“Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đã ngã thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu gì, tôi nói đại, chưa ông à. Ngã màu đất là sắp chết đấy cháu, ông nói. Ông đã có ý để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái kệ. Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đã chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đã chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đã cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quý tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông. Tôi vừa buông tay ra thì ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày”.

Song Thao

RA NƯỚC NGOÀI MÀ CHỤP HÌNHVỚI CỜ VÀNG 3 SỌC ĐỎ LÀ TOI ĐỜI ĐẤY              Đức Cha Hoàng Đức Oanh, Giám Mục địa phận Kon...
23/06/2026

RA NƯỚC NGOÀI MÀ CHỤP HÌNH
VỚI CỜ VÀNG 3 SỌC ĐỎ LÀ TOI ĐỜI ĐẤY

Đức Cha Hoàng Đức Oanh, Giám Mục địa phận Kontum, có việc đi nước ngoài.
Khi đến cơ quan nhà nước nhận hộ chiếu. Một cán bộ cộng sản nói với ông:
- Ông đi nước ngoài nhớ đừng chụp hình với lá cờ vàng ba sọc đỏ, nếu không là toi đời ông đấy!.

Nghe thế ngài đáp lại ngay:
- Vậy thì tôi trả hộ chiếu lại cho các ông, tôi không đi nữa!.

Họ ngạc nhiên hỏi lại ông:
- Sao vậy? Sao không đi?

Đức Cha cười nói:
- Chứ nếu đi nước ngoài mà toi đời thì đi làm gì chứ?”.

Rồi ngài nói với các ông ấy:
- Này nhé, tôi vào nhà ông, thấy ông để tượng Hồ Chí Minh với lá cờ đỏ, tôi có bảo ông đem đặt chỗ khác không? Đến nhà người ta ai mà làm thế bao giờ. Ở nước ngoài, nơi tôi đến có lá cờ vàng, chẳng lẽ tôi bảo họ đem cờ đi chỗ khác cho tôi ngồi và chụp hình à?.

Ngài nói tiếp, với lý luận sắc bén:
- Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, vậy các ông có ghét Tàu và Tây lắm không? Tôi thấy mấy ông lãnh đạo vẫn đứng chào cờ Trung Quốc, chào cờ Pháp, Mỹ đó thôi. Vậy tại sao lá cờ vàng của anh em người Việt mình mà các ông căm ghét đến như thế?.

- Còn nữa, hàng năm Việt Nam chúng ta đón bao nhiêu là Việt kiều, nhận bao nhiêu tiền do họ gửi về, sao lại phải lúc nào cũng căm ghét lá cờ vàng của họ?

Ngài nói thêm, như lời tâm sự, nghe rất xúc động:
- Năm 1954 gia đình tôi di cư vào Nam. Gia đình tôi sống được và tôi lớn lên, được ăn học là dưới lá cờ vàng. Nếu các ông có di cư vào Nam năm ấy thì các ông cũng như tôi thế thôi!.

Nghe những lời vô cùng hợp lý như thế, chắc họ bất ngờ và ngượng ngùng lắm nên cuối cùng họ bảo:
- Thôi ông cứ đi đi...

(Trích từ bài viết “Chuyện kể của một Đức Giám Mục” của Gioan Lê Quang Vinh).

SỔ MUA LƯƠNG THỰC                *****      Hồi ức của Viet Cuong Sarraut       Thời bao cấp có rất nhiều loại tem, phiế...
23/06/2026

SỔ MUA LƯƠNG THỰC
*****
Hồi ức của Viet Cuong Sarraut

Thời bao cấp có rất nhiều loại tem, phiếu nhưng sổ mua lương thực là loại sổ quan trọng nhất mà dân chúng gọi vắn tắt là sổ gạo. Một trong những hiện tượng tiêu biểu của thời bao cấp trên miền Bắc đất nước ta.
Đã có một thời mà “sổ gạo” gắn liền với sự sống còn của người dân, như một “vị cứu tinh”, một bùa hộ mệnh.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: "Sổ lương thực, hay nôm na là sổ gạo, là một quyển sổ ghi chỉ tiêu lương thực của một hộ gia đình được mua hàng tháng, trong thời bao cấp. Hàng tháng, người dân thành phố được mua một số lượng gạo và chất độn nhất định tùy theo tiêu chuẩn được ghi trong sổ. Sổ này do Sở Lương thực cấp căn cứ vào tên, tuổi, nghề nghiệp đăng ký trong sổ hộ khẩu chính thức. Để nhận lương thực, người dân mang sổ lương thực và xếp hàng mua tại cửa hàng lương thực".
Nguyên nhân sâu xa của việc hình thành chế độ cấp sổ gạo ở Việt Nam là cung luôn luôn thấp hơn cầu. Tình trạng này xuất hiện ở Miền Bắc từ cuối thập kỷ 50 và kéo dài trong cả nước từ sau 1975 cho tới khi đổi mới kinh tế vào năm 1986.
Bắt đầu từ ngày 1-3-1957, Nhà nước thực hiện chế độ cung cấp gạo ăn hàng tháng cho tất cả bộ đội, CBCNV, học sinh các trường chuyên nghiệp, học sinh trường phổ thông hưởng học bổng toàn phần, bệnh nhân tại các bệnh viện, trạm điều dưỡng…. và nhân dân có hộ khẩu thành phố. Giá thống nhất và ổn định là 0,4 đ/kg (4 hào/kg), nếu là gạo chiêm thì giá 0,36 đ/kg (3 hào 6 xu/kg).
Định lượng như sau:
- Cán bộ viên chức làm công tác hành chính sự nghiệp được tiểu chuẩn 13,5kg/người/tháng. Tức là 1 ngày được 450 gram, mỗi bữa ăn được 225 gram.
- Trẻ em từ sơ sinh đến 4 tuổi được hưởng 4kg/tháng. Tăng một tuổi được tăng thêm 1kg và không quá 15kg.
- Từ 18 tuổi trở lên được hưởng 13kg/người/tháng như tiêu chuẩn của một công dân có hộ khẩu thành phố.
- Công nhân lao động tùy theo công việc nhẹ, nặng hay độc hại được hưởng tiêu chuẩn định lượng theo công việc từ 18kg -24kg/tháng. Cho nên có những người không thích làm công việc nhẹ nhàng, muốn được giao làm công việc nặng nhọc để được hưởng tiêu chuẩn lương thực cao hơn.
- Người mắc bệnh đau dạ dầy, có xác nhận của bệnh viện thì được mua một định lượng gạo nếp trong tiểu chuẩn lương thực của mình với giá 0,49đ/kg (4 hào 9xu).
Định lượng như vậy nhưng không phải là được mua toàn gạo mà phải mua kèm từ 25% đến 50%(có lúc lên tới 75%) chất độn. Chất ăn độn có thể là ngô, khoai, sắn, bột mỳ, mỳ sợi, thậm chí là hạt bo bo (loại thức ăn dùng cho gia súc). Cửa hàng có gì bán nấy với giá:
- Ngô xay nhỏ 0,31đ/kg (3 hào 1 xu)
- Sắn củ 0,14đ/kg (1 hào 4 xu)
- Khoai củ 0,09đ/kg (9 xu)
Được cấp sổ gạo nhưng không phải lúc nào muốn mua cũng được mà phải đi mua ở đúng cửa hàng và theo các ngày đã quy định cho mỗi phường. Người Hà Nội thời đó hay dùng từ là "đi đong gạo". Đến ngày được đong gạo phải đi xếp hàng từ tờ mờ sáng, lúc còn chưa rõ mặt người vì số lượng người mua rất đông. Chưa đến giờ cửa hàng mở cửa, thì có thể xếp hàng bằng đủ các loại như làn, túi đựng gạo, rổ, rá, nón rách, thậm chí là bằng những viên gạch xây. Đến khi cửa hàng mở cửa thì thay những vật dụng đó bằng người và xếp hàng bằng sổ gạo. Người mua không biết trước là được mua gạo chiêm hay gạo mùa, chất ăn độn là loại gì, thậm chí là còn mới hay đã chớm mốc. Vì cửa hàng có loại gì bán loại đó, người mua không có quyền được lựa chọn. Hôm nào được mua chất độn là ngô xay là hạnh phúc nhất, vì dễ ăn, không bị hao định lượng. Hay được mua chất độn là mỳ sợi cũng dễ ăn. Sợ nhất là mua phải sắn đã bị chạy nhựa, hay khoai đã bị hà.
Sổ gạo như là một tài sản lớn để đảm bảo cuộc sống cho một gia đình, nếu không may làm mất thì trong thời gian chờ đợi các thủ tục cấp lại phải ăn gạo giá thị trường thì vô cùng khốn khổ.Cho nên dân Hà Nội ai cũng biết câu "mặt nghệt như mất sổ gạo".
Ngoài sổ mua lương thực còn có tem lương thực với đủ các loại định lượng từ 25 gram, 50 gram... đến 1kg, 2kg, 5kg....Tem lương thực được trích ra từ định lượng trong sổ mua lương thực gia đình, có thể dùng cho cán bộ đi công tác xa nhà để mua gạo theo giá cung cấp ở địa phương công tác, ăn cơm ở các cửa hàng mậu dịch hay đổi bánh mỳ.
Có thời gian, nếu có người thân ở quê đến chơi hoặc đi chữa bệnh, gia chủ có thể mang sổ hộ khẩu kèm theo giấy thông hành của người thân do địa phương cấp ra khai báo tạm trú với đồn công an khu vực để được cấp tem lương thực.
Chế độ phân phối lương thực bằng sổ mua lương thực như trên chấm dứt vào tháng 4 năm 1989.
-----------
(Trang bìa của một quyển sổ mua lương thực ở nội thành Hà Nội thời bao cấp. Cám ơn PGS Hà Đình Đức tặng và cho phép dùng để minh họa cho bài viết này, hình ảnh tem lương thực st trên mạng)

ÔNG LÝ QUANG DIỆU GẶP ÔNG VÕ VĂN KIỆT ĐÃ MỞ RA TRANG SỬ MỚI CHO KINH TẾ VIỆT NAM…LTS: Năm 1990, mối quan hệ của Việt Nam...
23/06/2026

ÔNG LÝ QUANG DIỆU GẶP ÔNG VÕ VĂN KIỆT ĐÃ MỞ RA TRANG SỬ MỚI CHO KINH TẾ VIỆT NAM…

LTS: Năm 1990, mối quan hệ của Việt Nam và Singapore sang trang mới, khi ấy ông Võ Văn Kiệt (khi ấy là Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) đã có buổi gặp gỡ với ông Lý Quang Diệu tại Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos (Thụy Sỹ). Cuộc gặp chóng vánh nhưng đã đạt nhiều kết quả sau đó.
Trong cuốn “Hồi ký”, ông Lý Quang Diệu đã viết về cuộc gặp gỡ với ông Võ Văn Kiệt:

“Ông Kiệt hy vọng chúng tôi sẽ gạt qua những bất đồng còn tồn đọng và hợp tác” và tôi nói: “Kinh tế Việt Nam không thể cất cánh cho đến khi nào Mỹ bật đèn xanh cho Ngân hàng Thế giới mở các khoảng cho vay mềm để phục hồi kinh tế Việt Nam và các nhà băng lón của Mỹ quyết định vào Việt Nam”. Và thực tế, 5 năm sau đó, Mỹ chính thức dỡ bỏ lệnh cấm vận Việt Nam.

“Tháng 10 năm 1991, khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt sang thăm Singapore, khi tôi tham dự buổi chiêu đãi. Khi bữa tiệc tàn, ông ấy đứng dậy tiến đến phía tôi, nắm tay tôi trong cái ôm và hỏi liệu tôi có giúp Việt Nam không? Tôi hỏi, bằng cách nào? Ông ấy trả lời, bằng cách trở thành cố vấn kinh tế cho họ. Tôi không nói lên lời.

Tuy nhiên tôi cho biết, kinh nghiệm của tôi chỉ giới hạn ở một nhà nước thành phố, tôi không có kinh nghiệm về một đất nước lớn như Việt Nam với số dân 60 triệu người, một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Tuy nhiên, ông ấy vẫn bền bỉ theo đuổi với ý định này trong hai lá thứ gửi cho tôi sau đó.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt muốn tôi quay lại mỗi năm, nói rằng tôi là một người bạn thực sự bởi tôi đã đưa ra lời khuyên chân tình và trung thực mặc dù đôi khi thật khó nghe. Tôi hứa sẽ quay lại trong 2 năm nữa. Trong thời gian đó, tôi sẽ gửi một lực lượng thi hành nhiệm vụ nghiên cứu các khuyết điểm về cơ sở hạ tầng của họ, đưa ra lời khuyên về các hải cảng, sân bay, đường sá, cầu công, thông tin liên lạc và điện lực.

Sau lần đó, chúng tôi trở lại Việt Nam để gặp gỡ các lãnh đạo của họ và các nhân ông Võ Văn Kiệt.

Chúng tôi tin tưởng Việt Nam muốn chúng tôi liên kết với họ để gần gũi với Asean và an toàn hơn với Trung Quốc.

Chúng tôi quyết định để quá khứ lại sau lưng và giúp đỡ họ hết sức mình để họ hòa nhập với nền kinh tế thị trường và trở thành những đối tác tương hợp trong khối Asean”…

Hồi ký Lý Quang Diệu

————-
Hồi ký Lý Quang Diệu không chỉ là câu chuyện đời người mà còn là bức tranh lịch sử sống động của Singapore. Ông kể lại quá trình từ khi đất nước còn là thuộc địa, trải qua chiến tranh đến lúc giành độc lập và phát triển mạnh mẽ. Điều nổi bật là văn phong thẳng thắn, lý trí, ít cảm xúc, tập trung vào phân tích và quyết định chính trị hơn là đời tư. Qua đó, người đọc không chỉ hiểu con người ông mà còn thấy rõ tư duy lãnh đạo, chiến lược phát triển và những lựa chọn khó khăn đã định hình nên một quốc gia hiện đại.

Address


Telephone

+61414266635

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TRI THỨC NGÀY NAY posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

  • Want your organization to be the top-listed Non Profit Organization?

Share