TRI THỨC NGÀY NAY

  • Home
  • TRI THỨC NGÀY NAY

TRI THỨC NGÀY NAY 1. KHÔNG văn hóa "mày/tao".
2. KHÔNG "spam" hình ảnh.
3. KHÔNG dùng từ thô tục.
4. KHÔNG kỳ thị vùng miền.
5. KHÔNG quảng cáo mua bán. Admin.

Hãy lịch sự và hòa nhã - các Admins sẽ khóa (block) lập tức những ai vi phạm mà không cần phải báo trước.

ÔNG TỔ NGHỀ NƯỚC MẮM TĨN Quan bát phẩm Trần Gia Hòa, người Phú Trinh, Phan Thiết, chính là ông tổ nghề nước mắm Phan Thi...
09/10/2026

ÔNG TỔ NGHỀ NƯỚC MẮM TĨN

Quan bát phẩm Trần Gia Hòa, người Phú Trinh, Phan Thiết, chính là ông tổ nghề nước mắm Phan Thiết, cái nôi của nước mắm Việt Nam. Ông được xem là hàm hộ của các hàm hộ tại đây. Ở làng chài Phan Thiết xưa, để được gọi là hàm hộ, người ta phải có ít nhất 5 que, một que nghĩa là một nhà thùng gồm 10 thùng tư, mỗi thùng chứa được 4 tấn cá muối chượp.

Ngày xưa, người dân làng chài Phan Thiết, từ thói quen giữ cá lâu ngày bằng muối, họ phát hiện ra một chất lỏng có mùi thơm ăn với cơm rất ngon nên gọi là mắm nước, về sau quen gọi là nước mắm. Chính ông Trần Gia Hòa, vì có công thương mại hóa nước mắm Phan Thiết bằng cách đưa vào chứa trong các tĩn gốm có dán nhãn vuông, chở bằng ghe bầu đi bán khắp tỉnh thành khác, nên được vua ban tước quan bát phẩm. Đây là loại nước mắm rin ngon vô đối thời bấy giờ, được kéo rút trực tiếp từ thùng lều gỗ ủ chượp cá theo phương cách chín chậm. Người dân khắp Việt Nam thời đó vẫn quen gọi là nước mắm tĩn.

Do ông có tên cúng cơm là Xì, nên người dân làng chài xưa hay gọi ông là ông Bát Xì. Ngày nay tại Phan Thiết vẫn còn cây cầu đặt tên Bát Xì do chính ông bỏ tiền xây dựng nên.

08/10/2026

NÉT ĐẸP VĂN HÓA VÀ LỊCH SỬ KIMONO NHẬT BẢN
Nhắc đến Nhật Bản, Kimono gần như là hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tâm trí nhiều người. Đó không chỉ là một bộ trang phục truyền thống, mà còn là kết tinh của lịch sử, thẩm mỹ và tinh thần văn hóa đã được gìn giữ qua hàng trăm năm.
Kimono, theo nghĩa đơn giản, là “đồ để mặc”, nhưng đằng sau cái tên giản dị ấy là cả một hành trình phát triển dài và đầy biến chuyển. Từ khoảng thế kỷ thứ 7, trong quá trình giao lưu văn hóa với Trung Hoa, người Nhật đã tiếp nhận những kiểu y phục đầu tiên. Tuy nhiên, thay vì sao chép, họ dần cải biến để phù hợp với bản sắc riêng. Đến thời kỳ Heian, Kimono bắt đầu định hình rõ nét với cấu trúc nhiều lớp áo mỏng, phối màu theo mùa, thể hiện sự tinh tế và địa vị của người mặc.
Qua thời gian, Kimono không còn là đặc quyền của giới quý tộc mà lan rộng ra toàn xã hội, đặc biệt khi tầng lớp samurai phát triển. Đến thời Edo, thiết kế Kimono được tinh giản và hoàn thiện hơn với sự xuất hiện của thắt lưng Obi, giúp trang phục trở nên gọn gàng nhưng vẫn giữ được vẻ trang nhã đặc trưng. Từ đó, Kimono trở thành quốc phục đúng nghĩa của Nhật Bản.
Điều làm nên giá trị đặc biệt của Kimono không chỉ nằm ở lịch sử mà còn ở chiều sâu văn hóa. Mỗi họa tiết trên vải đều mang ý nghĩa riêng. Hoa anh đào gợi nhắc về vẻ đẹp mong manh của cuộc sống. Sóng nước tượng trưng cho sức mạnh bền bỉ. Chim hạc lại đại diện cho trường thọ và may mắn. Ngay cả màu sắc cũng được lựa chọn theo mùa, theo độ tuổi và hoàn cảnh, thể hiện sự tinh tế trong cách người Nhật cảm nhận thế giới.
Không dừng lại ở đó, cách mặc Kimono cũng là một nghệ thuật. Người mặc phải biết cách quấn Obi, chọn lớp áo lót, giữ dáng đi đứng nhẹ nhàng, chậm rãi. Khi khoác lên mình Kimono, con người dường như cũng trở nên điềm tĩnh hơn, cử chỉ mềm mại hơn. Chính điều này tạo nên một vẻ đẹp rất riêng, không phô trương nhưng đầy cuốn hút.
Kimono cũng có nhiều loại khác nhau, tùy theo mục đích sử dụng và mức độ trang trọng. Có thể kể đến những loại phổ biến như Furisode với tay áo dài dành cho phụ nữ chưa kết hôn, Tomesode dành cho phụ nữ đã lập gia đình, Houmongi dùng trong các dịp trang trọng vừa phải, Komon cho sinh hoạt thường ngày, hay Yukata – phiên bản nhẹ nhàng hơn, thường mặc vào mùa hè hoặc trong các lễ hội. Tổng thể, nếu phân chia chi tiết, Kimono có khoảng từ 8 đến 12 loại phổ biến.
Một điều ít người để ý là để hoàn thành một bộ Kimono truyền thống không hề đơn giản. Với các mẫu sản xuất công nghiệp, thời gian có thể chỉ vài ngày đến một tuần. Nhưng với Kimono may đo thủ công, thời gian thường kéo dài từ một đến ba tháng. Đặc biệt, những bộ Kimono cao cấp được làm từ lụa, nhuộm và vẽ hoàn toàn bằng tay có thể mất đến nửa năm, thậm chí một năm để hoàn thiện. Mỗi công đoạn, từ dệt vải, nhuộm màu cho đến vẽ họa tiết, đều do những nghệ nhân chuyên biệt đảm nhiệm, khiến mỗi bộ Kimono trở thành một tác phẩm nghệ thuật thực thụ.
Ngày nay, dù Kimono không còn được mặc thường xuyên trong đời sống hàng ngày, nhưng nó vẫn giữ một vị trí đặc biệt trong văn hóa Nhật Bản. Người ta vẫn mặc Kimono trong lễ cưới, lễ trưởng thành, các dịp lễ hội hay những sự kiện quan trọng. Đó không chỉ là việc mặc một bộ đồ đẹp, mà còn là cách người Nhật gìn giữ truyền thống và thể hiện sự trân trọng với quá khứ.
Kimono, vì thế, không chỉ là trang phục. Nó là lịch sử được dệt thành từng lớp vải, là văn hóa được thể hiện qua từng họa tiết, và là tinh thần Nhật Bản được lưu giữ qua thời gian, nhẹ nhàng nhưng bền bỉ, giống như chính con người nơi đây.

TRANH CÃI GAY GẮT VỀ CÂU CHUYỆN “DU KHÁCH ẤN ĐỘ BỊ PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC Ở VIỆT NAM” Đầu tháng 3/2026, blogger du lịch Ấn ...
07/10/2026

TRANH CÃI GAY GẮT VỀ CÂU CHUYỆN “DU KHÁCH ẤN ĐỘ BỊ PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC Ở VIỆT NAM”

Đầu tháng 3/2026, blogger du lịch Ấn Độ Viadaksh đăng tải thông tin cho rằng anh bị phân biệt chủng tộc nặng nề bởi người Việt Nam khi đang du lịch tại Đà Nẵng - Hội An. Viadaksh đăng một bức ảnh về nhà hàng ở Đà Nẵng từ chối phục vụ người hút thuốc và người Ấn Độ lên Instagram, thu hút hàng trăm ngàn lượt xem và bình luận.

Tờ báo lớn của Ấn Độ là India Today đã đăng tải vụ việc và ghi nhận thêm nhiều ý kiến khác. Ví dụ, du khách Riya (Delhi) phê phán người bán hàng Việt Nam thô lỗ khi cô mặc cả. Riya cho biết người này đã dùng ứng dụng dịch thuật để gửi thông điệp: “Mấy người Ấn Độ chỉ biết mặc cả và làm mất thời gian của chúng tôi. Cút đi”. Các du khách khác như Prachi và Hina cũng phản ánh việc bị phân biệt đối xử hoặc bị người bán hàng Việt Nam đuổi khi mua sắm.

Phía Việt Nam đã chính thức phản hồi India Today rằng sẽ điều tra, làm rõ và công bố thông tin, đồng thời khẳng định Việt Nam là quốc gia “an toàn, thân thiện và hiếu khách”. Đến nay, Bộ Ngoại giao và UBND TP Đà Nẵng đã gửi văn bản đến Đại sứ quán Ấn Độ khẳng định không có tấm biển nào ghi “No Indian” và các thông tin trên là “chưa được kiểm chứng”.

Khi truy cập bài đăng của India Today trên X, YouTube cũng như tìm hiểu thông tin từ blogger Viadaksh, có đến hơn 90% bình luận bênh vực Việt Nam, cho rằng các cáo buộc phân biệt chủng tộc là thất thiệt, bịa đặt. Hầu hết du khách đều phản ánh sự thoải mái và vui vẻ khi đến Việt Nam. Tiến sĩ Jignesh Shah nhận xét người Việt rất tốt bụng và nhiệt tình.

: Các bạn lập tức chỉ trích Việt Nam? Trong khi du khách của chúng ta ồn ào, thô lỗ, bất lịch sự, tự cho mình quyền ồn ào, la hét?
: Người Việt Nam rất tốt bụng, hãy trách mình trước đã, chúng ta đòi hỏi rất nhiều và thường xuyên la hét.
: Tôi ở Việt Nam tới 7 năm và chẳng gặp vấn đề gì cả, hãy học cách cư xử có trách nhiệm
: Đoàn khách chúng tôi đến Hà Nội, một anh bạn trong đoàn hét vào mặt hướng dẫn viên người Việt, bạn ấy vẫn đáp lại nhẹ nhàng và bảo xin đừng hét, hãy bình tĩnh. Tôi cảm thấy nhục nhã.
: Khi tôi thấy người Ấn Độ hành xử ở Việt Nam, tôi không thấy lạ nếu họ bị đối xử tệ.
: Người Ấn Độ tắm trong một dòng suối ở Trung Quốc, họ tưởng đó là sông Hằng.

—

NHỮNG ĐIỀU VỀ QUÂN ĐỘI VNCH...Nguyễn Ngọc ChínhHầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, kẻ trước người sau, đều lần lượt r...
07/10/2026

NHỮNG ĐIỀU VỀ QUÂN ĐỘI VNCH...
Nguyễn Ngọc Chính

Hầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, kẻ trước người sau, đều lần lượt rời ghế học trò để khoác trên mình bộ quần áo lính. Đó có thể là sắc áo “rằn ri” của các binh chủng dữ dằn như Nhảy dù (được “thần tượng hóa” thành “thiên thần mũ đỏ”). Lực lượng đặc biệt, Biệt cách dù (Airborne Ranger, Liên đoàn 81 Biệt cách dù trong trận chiến An Lộc đã nổi tiếng với 2 câu thơ: “An Lộc địa, sử ghi chiến tích. Biệt Cách Dù vị quốc vong thân” hay Thủy quân lục chiến đội trên đầu chiếc mũ “mũ bê-rê xanh” còn Biệt động quân thì lại chọn màu mũ nâu.

Tuy nhiên, mũ bê-rê chỉ dùng khi về phép và các dịp đặc biệt, khi ra trận mọi quân binh chủng đều đội chiếc “mũ sắt” phía bên trong có lót lớp “mũ nhựa” để bảo vệ phần đầu. Trên nguyên tắc là vậy chứ nhiều khi đạn vẫn có thể xuyên thủng “mũ sắt” nếu bắn từ khoảng cách gần.

Lính bộ binh thì “hiền” hơn với bộ kaki, sau này được thay thế bằng bộ quân phục “bốn túi”, áo bỏ ngoài quần, giống như lính Mỹ. Đặc điểm của bộ binh là phải “gom ống quần” trong khi Không quân và Hải quân được thả ống quần, “lè phè”, thoải mái. Cũng vì thế lính Không quân và Hải quân sợ nhất là bị “gom ống quần lội bộ”, ám chỉ bị thuyên chuyển sang bộ binh để đi tác chiến.

"Giày trận” được gọi là “bốt đờ sô” (botte de saut), có loại hoàn toàn bằng da nhưng sau này có loại giày kết hợp giữa da và vải, rất nhẹ trong những chuyến lội rừng, băng suối. Lính “địa phương quân” hay “nghĩa quân” thì hẩm hiu hơn với những đôi giày bằng vải bố, được gọi tắt là “giày bố”, kiểu như giày “ba-ta” nhưng cổ cao hơn giày thường.

Ngôn ngữ lính tráng Sài Gòn xưa:

Ngôn ngữ Sài Gòn trước 1975 mang đậm chất “lính”. Cũng là điều dễ hiểu vì miền Nam khi đó đang trong thời kỳ “leo thang chiến tranh” với lệnh “tổng động viên” trên toàn lãnh thổ. Thanh niên đến tuổi 18 đều bị “động viên” vào quân ngũ, chỉ trừ một số trường hợp được “hoãn dịch” vì lý do sức khỏe, gia cảnh hoặc học vấn.

Bậc cha mẹ lo lắng khi con cái đến tuổi “quân dịch” còn thanh niên thì đứng trước một ngã rẽ quan trọng của cuộc đời: “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Mối lo của họ được thể hiện qua ám ảnh “Thi rớt tú tài…” và còn bi đát hơn với hai câu thơ:

Rớt tú tài anh đi trung sĩ,
Em ở nhà lấy Mỹ cho xong…

Thời nào cũng vậy, một số con ông cháu cha cũng có cách luồn lách để khỏi đi lính. Người Sài Gòn thường dùng chữ “trốn lính” hay “trốn quân dịch”. Một trong những cách “trốn lính” là tìm đường đi du học, hay cùng lắm, khi bị “bắt lính” lo “chạy” để được phục vụ trong các đơn vị không tác chiến, làm “lính văn phòng” hay còn được gọi là “lính kiểng”.

Đôi khi loại “lính kiểng” còn được gọi là “lính cậu”. Đây là loại “lính nhưng không phải là lính” nếu đem so sánh với những chiến binh ngày đêm phải đương đầu với súng đạn tại những tiền đồn heo hút hay rừng sâu núi thẳm, cách biệt hẳn với chốn phồn hoa đô hội. Xem ra câu “huynh đệ chi binh” không phải lúc nào cũng đúng như ý nghĩa vốn có của nó.

Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ 1972:

Ngay khi bắt đầu trình diện tại các Trung tâm Tuyển mộ Nhập ngũ, thanh niên dù “đăng lính” hay bị “bắt lính” cũng đều phải qua một trong những thủ tục là làm “thẻ bài”. Tấm “thẻ bài” là vật bất ly thân, được đeo trên cổ trong suốt thời gian tại ngũ của quân nhân.

Mỗi quân nhân bắt buộc có hai tấm “thẻ bài” bằng kim loại không gỉ, được đeo bằng sợi dây cũng bằng kim loại. Trên mỗi tấm có ghi họ tên, “số quân” và loại máu để khi bị thương, cần tiếp máu, quân y biết ngay loại máu gì. Khi người chiến sĩ tử trận, một tấm thẻ bài được bỏ trong miệng tử sĩ và tấm kia đơn vị sẽ giữ lại để làm tài liệu báo cáo.

Tướng Nguyễn Văn Điềm, “số quân”50/200.102, ông thuộc loại máu A.

Hai số đầu của “số quân” là năm sinh sau khi trừ 20. Như vậy, tướng Điềm sinh năm 1930 (50 – 20 = 30).

Tôi sinh năm 1946 nên có hai số đầu là 66: 66/168.566. “Số quân” của người lính tựa như “số an sinh xã hội” (social security number của Mỹ gồm 9 số), số “căn cước” (thời VNCH).

Bài hát “Tấm Thẻ Bài” qua tiếng hát liêu trai của Thanh Thúy đã gây nhiều xúc động trong lòng người nghe và mãi đến bây giờ, mỗi lần được nghe lại bài hát nầy hoặc là nhìn thấy lại hình tấm thẻ bài chúng ta càng thấy ngậm ngùi và thương tiếc những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua. Nhạc sĩ Huyền Anh đã viết những câu thật xúc động:

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đã mờ mờ mang tên anh.

…

Anh đã đi, đã đi vào vùng biển đời người
Anh ngủ yên, ngủ yên như cỏ úa
Anh ơi sau cuộc chiến này
Có còn chi để lại
Hay chỉ còn tấm thẻ bài mang tên anh.

Trong số các món quân trang, quân dụng được cấp phát, ngoài chiếc balô người lính còn có poncho là một tấm vải mưa trùm đầu theo kiểu vải khoác của người Nam Mỹ. Poncho lại còn có một công dụng mà bất cứ người lính nào cũng chẳng muốn sử dụng: poncho sẽ được dùng để khâm liệm xác của tử sĩ bỏ mình trên chiến trường…

"Trốn lính” là chấp nhận sống bên lề xã hội, “trốn chui trốn nhủi” khi thấy bóng dáng cảnh sát, quân cảnh. Cuộc sống của người trốn quân dịch là những chuỗi ngày bấp bênh, không tương lai ngay giữa Sài Gòn đô hội. Cũng vì thế, có người tự chặt “ngón tay bóp cò” (ngón trỏ) để khỏi đi lính, có người “tự hành xác”, “ốm tong ốm teo” để được các trung tâm nhập ngũ trả về vì “không đủ sức khỏe”…

… Dĩ nhiên trong lãnh vực báo chí Sài Gòn xưa tràn ngập những tin tức liên quan đến lính, từ các mục Tin Chiến Sự, Tin Chiến Trường đến các mục Hậu phương & Tiền Tuyến, Ủy lạo binh sĩ, v.v… Riêng quân đội cũng có cơ quan báo chí trực thuộc Phòng 5 Bộ tổng tham mưu với tờ Phụng Sự, ấn phẩm ra hằng tháng trong suốt thời gian từ 1953 đến 1960. Phụng Sự là tạp chí nghị luận, biên khảo và văn nghệ với sự góp mặt của Toàn Phong (tác giả Đời Phi Công), Hoàng Ngọc Liên, Hà Liên Tử, Nguyễn Mạnh Côn, Uyên Thao, Phan Lạc Tuyên…

Báo Chiến Sĩ Cộng Hòa (1959-1974) là cơ quan hợp nhất hai tờ Phụng Sự và Quân Đội và tạp chí Chỉ Đạo xuất hiện từ tháng 10/1956 thuộc Ủy ban Chỉ đạo chiến dịch Tố Cộng. Ngoài những nhà văn vừa kể, những tờ báo lính còn xuất hiện bài vở của các cây bút tiếng tăm trong và ngoài quân đội như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Thiệu Lâu, Toan Ánh, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Bình Nguyên Lộc, Trần Phong Giao, Dương Kiền, Duyên Anh, Hà Huyền Chi…

Nguyệt san Quân Đội của Nha Chiến tranh Tâm lý xuất hiện từ đầu năm 1957 đến 1960, do Trung úy Tô Kiều Ngân làm chủ bút (hẳn bạn đọc còn nhớ tiếng sáo của Tô Kiều Ngân trong chương trình Tao Đàn trên Đài Phát thanh Sài Gòn). Tiếp đến là những tờ Tiền Phong, Lý Tưởng, Mũ Đỏ, Lướt Sóng, Tinh Thần, Khởi Hành, và các nhật báo Tiếng Dân, Dân Việt, Tiền Tuyến…

Tổng thống Ngô Đình Diệm đã xác định trong một bài diễn văn tại trường Sĩ quan Võ bị Đà Lạt năm 1960: “Cuộc chiến tranh ta phải đương đầu không phải là một thứ chiến tranh quân cụ, một thứ chiến tranh bấm nút, hay một thứ chiến tranh chỉ liên hệ đến một số quân nhân mà thôi đâu. Thứ chiến tranh mà ta phải đối địch là thứ chiến tranh cách mạng, một thứ chiến tranh lý tưởng liên hệ trực tiếp đến toàn dân, và trong đó yếu tố tinh thần, yếu tố tin tưởng vào chế độ của mình là yếu tố quyết định”.

Ngày Quân lực VNCH được chính thức chọn vào ngày 19/6/1965 trong thời Đệ nhị Cộng hòa (dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Chủ tịch Ủy ban hành pháp Trung ương, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ) sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Từ năm 1965 cho đến 1974 đều có các cuộc diễn binh trọng thể để kỷ niệm Ngày Quân Lực tại Sài Gòn.

Khẩu hiệu chính của quân đội VNCH là “Danh dự – Trách nhiệm – Tổ quốc”, mỗi binh chủng lại còn có khẩu hiệu riêng, chẳng hạn như:

Không quân là “Tổ quốc, Không gian”, “Bảo quốc, Trấn không”

hoặc Cảnh sát thì có “Cảnh sát Quốc gia, Phục vụ Đồng bào”…

Các đơn vị quân đội VNCH ngoài tên gọi còn có những “biệt danh” nghe rất kêu nhưng cũng rất ngổ ngáo.

Thủy quân lục chiến có Quái Điểu (tiểu đoàn 1), Trâu Điên (tiểu đoàn 2), Sói Biển (tiểu đoàn 3), Kình Ngư (tiểu đoàn 4), Hắc Long (tiểu đoàn 5), Thần Ưng (tiểu đoàn 6), Hùm Xám (tiểu đoàn 7), Ó Biển (tiểu đoàn, Mãnh Hổ (tiểu đoàn 9).

Biệt động quân có biệt hiệu “Cọp ba đầu rằn”,

Không quân có các phi đoàn Thần Phong, Thần Tượng, Song Chùy, Phi Hổ, Hổ Cáp, Thiên Lôi, Hỏa Long, Phượng Hoàng…

Quân lực VNCH có một số cơ sở đào tạo và huấn luyện.

Đứng đầu là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, đào tạo những thanh niên tình nguyện trở thành sĩ quan hiện dịch ra trường với cấp bậc Thiếu úy. Khi mới thành lập năm 1948, thời gian huấn luyện tại trường chỉ kéo dài 9 tháng. Năm 1957 tăng lên thành 12 tháng rồi đến năm 1961 là 2 năm.

Đến giữa thập niên 1960, khóa học của Trường Võ bị Đà Lạt là chương trình 3 năm, từ năm 1966 trở đi lại tăng lên 4 năm. Học trình lúc đầu tương đương với trường cao đẳng. Sinh viên mãn khóa được miễn thi nhập học vào trường đại học vì coi như hoàn tất bằng Tú tài toàn phần (gồn Phần I, lớp Đệ nhị và Phần II, lớp Đệ nhất). Đến năm 1966, sinh viên tốt nghiệp

Trường Võ Bị có văn bằng tương đương với bằng cử nhân khoa học. Hai năm đầu sinh viên mang cấp bậc trung sĩ, hai năm sau là chuẩn úy. Sinh viên học xong 4 năm thì tốt nghiệp với cấp thiếu úy.

Khóa học bao gồm những môn vũ khí, truyền tin, tác chiến, kết hợp lý thuyết với thực hành. Theo truyền thống, để được gắn Alpha, sinh viên sĩ quan sau những tuần huấn nhục phải leo lên ngọn Lang Biang để nhận phù hiệu trên đỉnh ngọn núi cao nhất Đà Lạt.

Trường Võ bị Quốc gia lấy Học viện West Point của Hoa Kỳ làm mẫu mực. Hai năm đầu chương trình học cho các sinh viên đều giống nhau. Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi thì tách ra ba quân chủng riêng biệt, trong đó 1/8 thuộc Không quân, 1/8 thuộc Hải quân và 3/4 thuộc Lục quân.

Năm 1965, quân lực VNCH tiếp nhận khái niệm và cơ cấu Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) khi đó được áp dụng trong Quân đội Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan). Tổng cục CTCT được tổ chức thành 5 cục bao gồm: Cục chính huấn, Cục tâm lý chiến, Cục xã hội, Cục an ninh quân đội, Cục quân tiếp vụ và một trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị cũng đặt tại Đà Lạt.

Trường Bộ binh Thủ Đức là nơi tập họp các thanh niên có bằng Tú tài Phần I trở lên (lớp Đệ nhị) bị động viên vào quân ngũ để được đào tạo trở thành sĩ quan trừ bị và ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Trong suốt thời gian hoạt động 1953-1975, trường Thủ Đức đã đào tạo hơn 80.000 sĩ quan trong đó khoảng 4.000 sĩ quan đặc biệt là những hạ sĩ quan được đặc cách đi học lớp sĩ quan. “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” và “Cư An Tư Nguy” (Muốn sống hòa bình phải nghĩ đến chiến tranh) là những châm ngôn của Trường.

Trường Bộ binh Thủ Đức là nơi tôi đã từng trải qua với vô vàn kỷ niệm, vui cũng như buồn rất khó quên. Bò hỏa lực, đoạn đường chiến binh, leo dây tử thần, hít đất, thụt dầu, phạt dã chiến là những món “ăn chơi” không thể thiếu trong thời gian “huấn nhục” của người chiến binh. Vui nhất phải kể đến những lần về phép cuối tuần tại Sài Gòn nếu không có lệnh “cấm trại 100%”.

Người ta thường gọi sinh viên sĩ quan Thủ Đức chúng tôi là “lính con cá” vì trên cầu vai không có lon mà chỉ có chữ Alpha tựa như hình con cá! Phải đợi đến khi tốt nghiệp ra trường mới được đeo lon Chuẩn úy (Omega).

Trường Bộ binh Thủ Đức có “khu bưu chính” (KBC) mang số hiệu 4100, con số 4100 (bốn ngàn một trăm) được sinh viên chúng tôi đọc trại thành “bốn người một mâm”… chả là vì mỗi khi lên “nhà bàn” ăn cơm thì cứ bốn người ngồi chung một carrée!

Tại Sài Gòn còn có Trung tâm Huấn luyện Quang Trung chuyên đào tạo binh sĩ cho các đơn vị tác chiến khắp “bốn vùng chiến thuật”. Tôi cũng đã từng nếm mùi quân trường Quang Trung trước khi được chuyển sang Thủ Đức ở giai đoạn 2.

Quang Trung có món “chà láng”: những lúc rảnh rỗi tất cả phải ra giao thông hào, dùng càmen bằng inox để chà đất cho thật láng! Một việc làm “vô bổ” nhưng lại có tác dụng khiến cho những thanh niên mới khoác áo lính phải bận rộn, không còn thì giờ rảnh rỗi để nhớ nhà, nhớ cuộc đời dân sự.

Trường Huấn luyện Không quân, Trường Sĩ quan Hải quân và Trường Hạ sĩ quan (tốt nghiệp với cấp bậc Trung sĩ, thường được gọi là Trường Đồng Đế) tất cả đều ở Nha Trang, “miền quê hương cát trắng”.

Trường Thiếu sinh quân đặt tại Vũng Tàu, ưu tiên cho các con em tử sĩ. Còn một số trung tâm huấn luyện chuyên môn cho các quân binh chủng như Pháo binh, Công binh, Quân cụ, Quân khuyển, Quân y, Truyền tin… đặt tại các địa phương trên cả nước.

Sẽ là điều bất công nếu không nói về Đoàn Nữ Quân Nhân, “những bông hồng trong bộ đồ lính” hay nói một cách thi vị hơn: “Hoa lạc giữa rừng gươm”. Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân đầu tiên là Đại tá Trần Cẩm Hương, ái nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo – Tổng trưởng Công chánh thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Nữ quân nhân hiện diện tại các đơn vị quân đội với quân phục tác chiến ở tiền phương hoặc với đồng phục màu xanh tại các đơn vị tham mưu. Họ có mặt trong mọi binh chủng và ngành chuyên môn trong quân lực và vào thời điểm “leo thang chiến tranh”, quân số của Đoàn Nữ Quân Nhân lên tới xấp xỉ 10.000 người.

Trường Nữ Quân Nhân nằm trên đường Nguyễn Văn Thoại, giữa Trường đua Phú Thọ và Chợ Tân Bình. Trường được thành lập từ giữa thập niên 1960 và đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hồ Thị Vẽ, từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng, 30/4/1975.

Ngoài ra còn có Trường Xã Hội Quân Đội thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, tọa lạc trong Trại Lê Văn Duyệt, nơi đặt bản doanh Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô nằm trên đường Lê Văn Duyệt. Trường Xã Hội Quân Đội còn đào tạo và huấn luyện những cô giáo nhà trẻ mẫu giáo để phục vụ tại các trung tâm, trường học ở khu gia binh thuộc quyền điều hành của quân đội. Trường Sinh ngữ Quân đội nơi tôi giảng dạy cũng có một nhà trẻ dành cho con em của các giảng viên và do nữ quân nhân phụ trách.

Lực lượng quân đội VNCH có đến 11 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn nhảy dù, 1 sư đoàn thủy quân lục chiến, Liên đoàn 81 Biệt cách dù, 21 liên đoàn biệt động quân, 4 lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp, Lực lượng Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, các đơn vị Pháo binh biệt lập và lực lượng Địa phương quân gồm 400 tiểu đoàn, nghĩa quân hơn 50.000 quân.

Những con số vừa nêu rõ ràng là nói lên sức mạnh hùng hậu của quân lực VNCH.

Chỉ tiếc một điều, sức mạnh đó sẽ không là gì một khi đồng minh “đem con bỏ chợ”

Nguyễn Ngọc Chính

SÀI GÒN MƯA, NHẮC LẠI CHUYỆN DÙNG LU CHỐNG NGẬP…Phó giáo sư Tiến sĩ Phan Thị Hồng Xuân-Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - ...
06/10/2026

SÀI GÒN MƯA, NHẮC LẠI CHUYỆN DÙNG LU CHỐNG NGẬP…

Phó giáo sư Tiến sĩ Phan Thị Hồng Xuân-Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Đông Nam Á, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Dân tộc học - Nhân học TP.HCM.

Đại diện của JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản) tại Việt Nam vừa chính thức khẳng định không đưa ra sáng kiến dùng lu chống ngập như tuyên bố của bà Phan Thị Hồng Xuân, đại biểu Hội đồng Nhân dân TPHCM, vài ngày trước.

Trả lời báo Lao Động ngày 17/7, đại diện của JICA tại Việt Nam cho biết “hiện không có hoạt động nào chống ngập bằng lu nước tại các hộ gia đình” trong các dự án của cơ quan này liên quan tới phòng chống và quản lý ngập tại TPCHM.

Trước đó vào ngày 12/7, tại kỳ họp HĐND TPHCM, khi thảo luận về vấn đề ngập nước ở TPHCM, PGS.TS. Phan Thị Hồng Xuân, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Đông Nam Á, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Dân tộc học - Nhân học TP.HCM, đã đề xuất ý kiến trang bị lu nước ở mỗi hộ gia đình để chống ngập.

Sau khi bị chỉ trích dữ dội trên mạng xã hội, bà Xuân giải thích với báo chí rằng ý tưởng này không phải do bà tự nghĩ ra, mà là sáng kiến đã được các chuyên gia của JICA nêu lên trong một cuộc họp gần đây mà bà tham dự.

Bà Xuân còn trích dẫn thông tin từ cuộc họp nói rằng sáng kiến này đã “áp dụng rất thành công” tại Tokyo, và JICA cho rằng nếu TPCHM vận động mỗi hộ gia đình xây một bể chứa nước 1m3 thì vừa góp phần chống ngập vừa tiết kiệm nước sạch, theo Trí Thức Trẻ.

Bà Phan Thị Hồng Xuân là Phó giáo sư-Tiến sĩ hiện đang giữ chức Trưởng khoa Đô thị học của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TPHCM.

Trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ ngày 13/7, bà Xuân nói rằng việc bà dùng từ “cái lu” là vì muốn nhấn mạnh khía cạnh “tri thức bản địa” theo phương diện dân gian, nhưng lại bị mọi người “đẩy câu chuyện quá xa”, khiến cho bà rất buồn khi thấy trên mạng xã hội có những phản ứng tiêu cực, chế giễu, thóa mạ đối với đề xuất của bà.

Ngày 16/7, Trưởng khoa Đô Thị học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TPHCM xác nhận với báo Điện tử Giáo dục Việt Nam rằng bà Xuân đã xin nghỉ phép dài ngày sau “biến cố quá lớn đối với bản thân”.

Ngoài đề xuất “dùng lu chống ngập”, PGS. TS. Phạn Thị Hồng Xuân còn bị công luận chỉ trích về đề nghị mạnh tay với người nhập cư xả rác, và đưa họ về quê nếu không tuân thủ các quy định của thành phố.

“Có biện pháp nào mạnh mẽ hơn không? TPHCM có thể yêu cầu họ trở về nơi cư trú cũ vì ‘Anh ơi đô thành ở đây em sống không quen’”, VTV24 dẫn lời đại biểu Xuân ví von tại cuộc kỳ họp HĐND TPHCM khi đề cập đến chương trình vận động toàn dân không xả rác.

Theo LS. Trần Thu Nam, Đoàn Luật sư Hà Nội, đề xuất của bà Xuân là “vi hiến và ngớ ngẩn” vì quyền tự do đi lại, cư trú là một trong những quyền cơ bản của con người đã được Hiến định, không thể tước bỏ tùy tiện, theo báo Pháp Luật Việt Nam.

Tin cho hay bà Phan Thị Hồng Xuân là người có quê quán gốc ở Đồng Tháp.

VOA Tiếng Việt.

TRĂM NĂM NGHĨA TÌNH…Vũ Thế Thành Ông Võ Hương An thời sinh viên, dám tán tỉnh con gái thầy giáo. Chuyện tưởng khó mà lại...
05/10/2026

TRĂM NĂM NGHĨA TÌNH…
Vũ Thế Thành

Ông Võ Hương An thời sinh viên, dám tán tỉnh con gái thầy giáo. Chuyện tưởng khó mà lại thành, đúng như câu ca dao Nam Bộ: “Ai ai cũng tưởng bậu hiền, cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai”.

Ông thầy thuộc hàng “thứ dữ”, chứ không xoàng. Đó là giáo sư Nguyễn Đình Hàm, hiệu trưởng Quốc Học Huế những năm cuối thập niên 50. Trước đó ông từng làm quan triều Nguyễn, đeo bài ngà hẳn hòi chứ không phải cấp thơ lại. Sau chức hiệu trưởng thầy Hàm làm Chánh sự vụ thuộc Bộ Tài Chính.

Ông thầy có hai cô con gái cũng theo học tại Quốc Học. Thuở đó, con gái học tới đệ nhị cấp đếm đầu ngón tay. Hoa lạc giữa rừng gươm nên là đối tượng cạnh tranh của đám học trò. Trường Quốc Học Huế được xem là trường đào tạo tinh hoa cho cả miền Trung.

Theo lời thú nhận của ông Võ Hương An, việc học chỉ trên trung bình một chút, coi như không có cửa cạnh tranh với các đồng môn nặng ký.

Khi vào Đại học Sư phạm ban Khoa học (Toán – Lý- Hóa), ông lại tái ngộ GS Nguyễn Đình Hàm khi học môn Luân lý chức nghiệp. Bà Minh Lệ, con gái thầy Hàm cũng theo học tại ĐHSP. Nếu nàng đem Toán học ra “gieo cầu” thì ông thua chắc. Họ chơi chung một nhóm với nhau thời sinh viên. Ông phân trần với tôi, không phải là tán tỉnh, mà là chơi chung một nhóm hồi đại học, rồi mưa dần thấm lâu. Hai người nên duyên vợ chồng năm 1967. Đúng là cắn cơm không bể, nhưng cắn tiền lại bể hai…

Tốt nghiệp ĐHSP, ông được bổ nhiệm về trường trung học Hàm Nghi, nằm trong khuôn viên của Quốc Tử Giám. Lúc đó trường thừa người dạy Lý Hóa, mà thiếu Sử- Địa, nên Võ Hương An đành lấp vào chỗ thiếu. Không ngờ môn Sử sau này lại trở thành cái nghiệp với ông suốt đời.

Cung đình Huế thì lắm chuyện thâm cung bí sử, tin đồn rỉ tai, tam sao thất bổn nhiều hơn chính sử. Tôi đọc mấy sách loại này như đọc tiểu thuyết vì suy diễn nhiều hơn suy luận. Nhưng có một tác giả viết về chuyện cung đình khiến tôi phải… nể. Đó là ông Võ Hương An

Cha ông Võ Hương An là thị vệ trải hai đời vua Khải Định và Bảo Đại. Chức vụ cuối cùng là Nhất đẳng thị vệ. Thuở nhỏ ông Võ Hương An vẫn hóng chuyện cha ông nói chuyện với khách, thỉnh thoảng theo cha vào cung cấm. Chưa kể nghe mệ nội, mệ ngoại đi chợ về tán chuyện đàn bà cung cấm. Lớn lên, ông trao đổi trực tiếp với cha nhiều hơn về thời cha ông làm thị vệ. Thị vệ là chức quan theo sát nhà vua, truyền ý chỉ của vua. Không phải tất cả những gì cha nói, ông Võ Hương An đều tin ngay. Có những thông tin ông kiểm chứng và lật ngược lại. Cách làm việc khoa học của ông khiến bài viết có độ tin cậy cao.

Tôi và ông Võ Hương An quen nhau đã hơn mười năm, qua những bài báo của nhau. Ông biết tôi qua các bài an toàn thực phẩm đăng ở báo online khoahocnet ở nước ngoài. Tôi phục ông qua các bài viết về cung đình Huế với sự cẩn trọng.

Thỉnh thoảng mail qua mail lại, tặng sách cho nhau. Ông nói, ông tốt nghiệp ĐHSP Huế, môn Lý Hóa. Tự hỏi, sao ông lại viết về oral history (lịch sử truyền khẩu) rất thuyết phục và đúng phương pháp như thế? Tôi thắc mắc hoài. Sau này mới biết, ông học thêm và tốt nghiệp Cao học Sử năm 1974, với thesis “Lịch sử Đà Nẵng 1306-1950”. Hèn gì!

Trở lại với chuyện “cắn tiền bể hai”. Cô giáo Minh Lệ cũng được bổ nhiệm về trường Hàm Nghi, và dạy môn Toán. Ông Võ Hương An thì cứ từ từ với công việc “trái ngành” như thế, dạy Sử Địa, rồi lên làm giám học. Có thời làm quyền Hiệu trưởng. Như vậy, ở trường ông là sếp của bà. Về nhà chắc vị trí đảo ngược. Sau này ông Võ Hương An làm việc ở Đà Nẵng, cô giáo Minh Lệ cũng theo chồng về đây, dạy học tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng.

Sau năm 1975, ông Võ Hương An phải đi tù cải tạo 7 năm. Tôi thắc mắc, đi dạy Lý-Hóa, hay Sử đâu có gì mà phải đi tù 7 năm. Sau này mới biết, ông làm thanh tra Giám sát Viện VNCH. Giám sát viện có quyền thanh tra, điều tra các chức vụ cao cấp nhất của Hành pháp, Tư pháp và Lập pháp.

Sau khi ra tù, ông làm đủ nghề, ai mướn gì làm nấy. Khi qua Mỹ theo diện H.O. ông làm công nhân hãng xưởng cho đến khi về hưu.

Nơi xứ người, ông Võ Hương An viết tùy bút kể lại nhóm ông đã nấu mì Quảng trong tù thế nào (tôi có đề cập tới tô mì Quảng thần thánh của ông trong sách “Ẩm thực ven đường – Huế”, xb 2024). Đôi lúc nhớ lại tô mì Quảng trong tù, ông Võ Hương An nhờ vợ nấu lại món mì Quảng thời hoang sơ, mà với ông, ngon nhất trần đời. Các bà vợ Huế có thể “độc tài toàn trị” với chồng, nhưng vụ bếp núc, nhất là những món ăn dịp giỗ kỵ không bao giờ để chồng nhúng tay. Đó là sĩ diện của mấy bả. Bà Minh Lệ nghe ông nhờ nấu, chỉ cười “… Chừ mà nấu kiểu đó, anh phải ráng ăn cho hết, vì không ma nào ăn mô”.

Ở Mỹ, ông Võ Hương An viết nhiều sách khảo cứu: Huế của một thời, Vua Khải Định – hình ảnh và sự kiện, Từ điển nhà Nguyễn, Lịch sử Đà Nẵng, Chân dung H.O,… Trong đó, tôi đánh giá cao nhất là sách “Huế của một thời”. Đặc biệt là sách “Vua Khải Định” đã giải mã nhiều câu chuyện oral history, vì không phải nhà sử học nào cũng có cơ may cọ sát với nhân chứng cung đình như ông.

Còn bà Minh Lệ thì sao? Qua Mỹ bà không có cơ hội quay lại nghề dạy toán. Phải làm những chuyện lặt vặt. Sau này ông viết lách cho đỡ buồn, bà biên tập các bài viết cho ông – công việc tỉ mỉ lặng lẽ sau lưng những biên khảo rất giá trị của chồng.

Vài năm sau này, ông nói với tôi, vợ ông bị Alzheimer. Người cả đời từng sống với những con số, rồi lại tỉ mỉ biên tập sách cho chồng. Vậy mà ký ức cũng dần lãng quên thế sao? Bạn bè tôi trong nước, vài người có cha mẹ bị Alzheimer, nên tôi biết chăm sóc họ vất vả thế nào. Ở nước ngoài, nhiều gia đình lựa chọn viện dưỡng lão vì điều kiện chăm sóc người bệnh tốt hơn, rồi hàng tuần vào thăm cha mẹ.

Nhưng ông Võ Hương An lại chọn cách khác. Ông tự tay chăm sóc vợ ở nhà, với những công việc osin không tên, đếm sao cho hết! Ông thường trả lời thư tôi muộn, rồi kín đáo giải thích “… nhờ hai ngày cuối tuần, có con cái về phụ coi mẹ nó nên tôi có chút thời gian đọc mail và trả lời”.

Ông Võ Hương An tên thật là Võ Văn Dật. Võ Hương An là bút hiệu khi viết những sách biên khảo. Ông nói, chánh quán của ông ở làng An Ninh Hạ, huyện Hương Trà – Ghép lại thành Hương An để nhớ quê.

Bà Võ Văn Dật, nhũ danh Nguyễn Thị Minh Lệ, giáo sư Toán trường Hàm Nghi (Huế) và Phan Chu Trinh (Đà Nẵng) đã mãn phần ngày 01/07/2026 tại San Jose.

Bạn tôi có người là học trò cô Minh Lệ ở trường Hàm Nghi đã đến thắp nhang tưởng niệm cô giáo cũ. Tôi nhắn, thắp giùm tôi nén nhang.

Ông Võ Hương An năm nay đã vào tuổi U 100. Chỉ mới vài tháng trước ông vẫn lặng lẽ chăm sóc người vợ không còn nhớ mình là ai. Tình đưa họ đến với nhau, Nghĩa làm họ gắn chặt nhau. Chẳng phải là trăm năm nghĩa tình đấy sao!

Vũ Thế Thành

(hình riêng tư trong bài được post với sự đồng ý của ông Võ Hương An).

Address


Telephone

+61414266635

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TRI THỨC NGÀY NAY posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

  • Want your organization to be the top-listed non profit organization?

Share